CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH THEO ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG TÁC 1.1 Các khái niệm Theo GS. Nguyễn Quang:“Dạy là sự điều khiển tối ƣu hoá quá trình ngƣời học chiếm lĩnh nội dung học, trong và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân cách (năng lực, phẩm chất)”. “Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học (nội dung học) dƣới sự điều khiển sƣ phạm của giáo viên” [4,11] Dạy học: Dạy học được xác định như một nổ lực để giúp một người nào đó có được, hoặc thay đổi một kỹ năng, kiến thức và các ý tưởng. Nói cách khác, nhiệm vụ của người giáo viên là tạo ra hoặc gây ảnh hưởng để có thể dẫn tới một sự thay đổi về hành vi mong muốn.
[ Nguyễn Hữu Châu (2005)] Nội dung dạy học: Là một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hoá của dân tộc và nhân loại; đó là những hệ thống tri thức, những cách thức hoạt động, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và những tiêu chuẩn về thái độ đối với thế giới, con người phù hợp về mặt sư phạm nhằm hình thành và phát triển nhân cách người học. Tương tác: Theo nhà tâm lý học Piaget tương tác là sự tác động vào người học làm cho người học có khả năng thực hiện một hành động hay làm được một việc gì đó năng động hơn, linh hoạt hơn, trong đó người học được đặt vào tình huống để suy nghĩ và giải quyết các vấn đề, từ đó hình thành và phát triển hoạt động học tập của họ nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Ngoại ngữ: là một ngôn ngữ cụ thể được tạo ra để thoả mãn nhu cầu giao tiếp và nhu cầu nhận thức bằng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của người học. 6 Phương pháp: Phương pháp có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Methods” có nghĩa là “con đường”.
Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc, những yêu cầu mà con người phải thực hiện trong khi vươn tới mục đích của mình, phương pháp có nghĩa là con đường, là cách thức để đạt được những mục tiêu nhất định. Phương pháp dạy học (PPDH): Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của người dạy và người học, nhờ đó mà người học nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức. Lưu Xuân Mới: “Phƣơng pháp giảng dạy là tổng hợp các cách thức hoạt động tƣơng tác đƣợc điều chỉnh của giảng viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học”. - Theo nhà giáo dục học Xcatkin: “Phƣơng pháp giảng dạy là hệ thống những hoạt động có mục đích của giáo viên và hoạt động nhận thức có tổ chức của sinh viên nhằm lĩnh hội tốt nội dung trí dục và đức dục”.
- Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (IK. - Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học. Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập của người học và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo (I.Dverev,1980) - Phương pháp dạy học là cách thức, là con đường, là phương hướng hành động để giải quyết vấn đề nhận thức của người học nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Đặc điểm của phương pháp dạy học - Phương pháp được quy định bởi mục đích của công việc (mục đích khác nhau thì phương thức thực hiện cũng khác nhau) - Phương pháp được cụ thể hoá bởi nội dung.
Nội dung công việc quy định cụ thể việc sử dụng phương pháp này hay phương pháp khác. 7 - Thể hiện qua tính tối ưu và tính đa dạng. Tính đa dạng được thể hiện ở chỗ có nhiều phương pháp khác nhau để thực hiện mục tiêu hoạt động. Chủ thể hoạt động luôn phải đối mặt với việc lựa chọn, xác định rõ phương pháp nào là tốt nhất, sử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt được hiệu quả cao nhất.
Điều đó nói lên tính tối ưu của phương pháp. Phương pháp dạy học ngoại ngữ: Phương pháp dạy học ngoại ngữ là cấu trúc logic của cách thức, phương thức hoạt động/hành động. Trong dạy học ngoại ngữ nói riêng cũng như trong dạy học nói chung, có ba yếu tố chính: một là người học, hai là môn học, ba là người dạy. Là một trường hợp cụ thể của dạy học, ba yếu tố đó trong dạy học ngoại ngữ được hiểu cụ thể là người học ngoại ngữ, môn học ngoại ngữ, và người dạy ngoại ngữ.
Đây là ba yếu tố cơ bản nhất cấu thành dạy học ngoại ngữ. Bất kỳ một định nghĩa nào muốn đầy đủ và đúng đắn về dạy học ngoại ngữ cũng phải bao gồm được ba yếu tố trên. Không đủ ba yếu tố trên thì không có dạy học ngoại ngữ. Bản chất tâm lý học dạy học ngoại ngữ ở đây được lý giải việc người học nhận thức (nắm vững) nội dung môn học ngoại ngữ như thế nào? Sự nhận thức này diễn ra theo qui luật nào? Bản chất của ngoại ngữ là gì? Và người dạy có vai trò, chức năng như thế nào ở đây, từ đó làm cơ sở để đề ra phương hướng, mục tiêu, đối tượng, nội dung, và phương pháp dạy học ngoại ngữ thích hợp trong dạy học ngoại ngữ.
Đặc trưng của hoạt động dạy học ngoại ngữ: Gồm 5 thành phần 1) Đối tượng 2) Động cơ Đối 3) Mục đích tượng 4) Phương tiện 5) Điều kiện Động Mục cơ Hoạt động đích dạy học ngoại ngữ Điều Phương kiện tiện 8 a/ Đối tượng: chính là ngoại ngữ, hay ngôn ngữ cụ thể được dạy. Ngôn ngữ được hiểu như đối tượng môn học chính là những tri thức về sự vật hiện tượng, về mối quan hệ giữa chúng với nhau, về bản tính và về hình thức tồn tại của bản tính đó; cũng như các khả năng vận dụng chúng vào đời sống, là đối tượng của các khoa học tự nhiên, xã hội và tư duy.khi các khoa học này được đưa vào nhà trường giảng dạy thì đối tượng đó trở thành đối tượng của hoạt động dạy học các môn học tương ứng. b/ Động cơ: là việc tổ chức để người học lĩnh hội được các thao tác ngôn ngữ và các thao tác lời nói trong hoạt động lời nói ngoại ngữ và đưa chúng vào dạng hoạt động để giao tiếp và nhận thức. Thật vậy, dạy học ngoại ngữ trước tiên phải hình thành, gây động cơ học tập cho người học.
Nhu cầu và động cơ luôn gắn bó mật thiết với nhau đến mức không thể tách rời ra được, chúng tạo thành một khối thống nhất, một môi trường động cơ – nhu cầu. Khi người học có hứng thú với môn học thì động cơ bắt đầu có liên quan đến nhu cầu giao tiếp (động cơ đích thực); vì vậy, cần phải tạo ra các điều kiện kích thích hứng thú học tập ngoại ngữ như làm cho người học ý thức được đầy đủ sự cần thiết phải nắm được ngoại ngữ như phương tiện giao tiếp. Các điều kiện như: xây dựng chương trình học tập ngoại ngữ hợp lý, tạo tình huống lời nói. c/ Mục đích: Mục đích của dạy học ngoại ngữ là làm cho người học nắm được ngoại ngữ như một phương tiện giao tiếp để có thể nói, nghe, đọc, viết, dịch và nghĩ bằng ngoại ngữ trong giao tiếp ngoại ngữ và trong nhận thức; để từ đó hình thành kỷ năng, kỷ xảo lời nói ngoại ngữ.
d/ Phương tiện: Phương tiện hoạt động dạy học ngoại ngữ cơ bản nhất là các hoạt động học ngoại ngữ. Hoạt động này cũng giống các hoạt động khác như hoạt động phân tích, hoạt động mô hình hoá, hoạt động khái quát hoá, cụ thể hoá. nhưng chúng được thực hiện trên đối tượng là các đơn vị ngôn ngữ và lời nói ngoại ngữ (hay phương tiện bên trong của hoạt động dạy học ngoại ngữ) và phương tiện bên ngoài với vai trò chuyển mục đích của hoạt động dạy ngoại ngữ sang hoạt động học ngoại ngữ đó là ngôn ngữ chung của thầy và trò. Đặc biệt trong giai đoạn đầu, 9 dạy học ngoại ngữ với tư cách là phương tiện cần phải hình thành dần dần, phải theo quy luật chuyển dần từ mục đích sang phương tiện dạy học; sử dụng ngôn ngữ tình huống, phải dùng nhiều cử chỉ, điệu bộ và có khi cả tiếng mẹ đẻ nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
e/ Điều kiện: Theo V.Archionov (1969) cho rằng điều kiện của hoạt động dạy học ngoại ngữ bao gồm: - Đặc điểm của người thầy: trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy, thái độ đối với người học, cách tổ chức hoạt động học tập. - Đặc điểm của người học: những khả năng đã có, thái độ đối với môn học, phương pháp học tập. - Môi trường: môi trường tiếng, nhu cầu xã hội. - Tài liệu học tập và các phương tiện kỹ thuật khác.
Phương pháp dạy học theo định hướng tương tác: là một cách dạy học linh hoạt nhằm nhấn mạnh vào việc học để giao tiếp thông qua sự tương tác bằng ngôn ngữ. Người học được đặt vào tình huống cụ thể để giải quyết vấn đề gắn liền với nhu cầu và gần gũi với cuộc sống. Trong cách dạy này người học là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tác động qua lại giữa người dạy và người học. Kết quả là sự nổ lực của chính người học để đạt được thành quả trong học tập.
Dạy học tương tác không chỉ là cơ hội để người học có ý thức tự học, có trách nhiệm với việc học của mình mà còn là điều kiện tốt khuyến khích sinh viên tham gia xây dựng bài, sáng tạo trong cách suy nghĩ và ngày càng độc lập hơn trong quá trình học tập.2 Kỹ năng nói Kỹ năng nói là sự giao tiếp hay chính là giao tiếp hoạt động. Kỹ năng nói khác với các kỹ năng khác như đọc, viết, nghe ở chỗ đó là sự kết hợp của nhiều yếu tố, nhiều thành phần kết hợp lại để phát ra lời nói. Kỹ năng nói là một dạng kỹ năng đặc biệt của con người; nó không phải là cái được di truyền và cũng không phải là bẩm sinh. Kỹ năng nói được hình thành và phát triển trong quá trình nắm vững và 10 thực hiện hành động giao tiếp và nhận thức.
Kỹ năng nói được coi là mặt biểu hiện năng lực, trí tuệ của con người. (Platonov - 1963) Kỹ năng nói rất đa dạng và phong phú. Có nhiều cách để thể hiện ngôn ngữ cần diễn đạt.