CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 1. Cơ sở lý luận của dạy học theo quan điểm tích hợp 1. Quan điểm về tích hợp Theo quan điểm của Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau 2015 cho rằng:Tích hợp được hiểu là giáo viên tổ chức để học sinh huy động đồng thời kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kỹ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết.
Như vậy, tích hợp có thể hiểu đó là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển ở người học những năng lực cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề có hiệu quả các tình huống thực tiễn. Điều đó, cũng có nghĩa là để đảm bảo cho các em biết vận dụng kiến thức được học vào các hoàn cảnh mới lạ. Như vậy, tích hợp sẽ phát huy một cách tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi HS, giúp các em thành công trong vai trò người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai.Thế nào là dạy học tích hợp 1.Khái niệm Đã có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra cách hiểu của mình về quan điểm tích hợp. Sau đây, tôi xin trích dẫn một số ý kiến của một số các nhà nghiên cứu: “Tích hợp trong dạy học là thống nhất liên kết giữa các phân môn trong bộ môn, giữa các bộ môn có liên quan; giữa các bộ môn, giữa các phân môn có quan hệ hỗ trợ nhau tạo thành một thể thống nhất nhằm tránh tình trạng dạy tách biệt.
Qua đó rèn các kĩ năng liên môn để người họcphát huy được khả năng sáng tạo, tư duy tổng hợp” – Nguyễn Hải Châu. Nguyễn Trọng Hoàn quan niệm: “Tích hợp là thuật ngữ mà nội hàm của nó chỉ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn, trên cơ sở một văn bản có vai trò là kiến thức nguồn”. Ngoài ra, còn có rất nhiều ý kiến của các tác giả, nhà nghiên cứu khác nữa, như: TS. Đỗ Ngọc Thắng, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thị Thu Trang,…Nhìn chung các ý kiến đều thống nhất với khái niệm tích hợp được nêu trong chương trình dự thảo THPT năm 2002 của Bộ GD&ĐT.
Bản chất của dạy học tích hợp Kế thừa và phát triển những thành tựu mà các lí thuyết về quá trình học tập và các trào lưu sư phạm của thế giới đã đạt được, sư phạm tích hợp đề cập tới ba vấn đề lớn của nhà trường. Vấn đề thứ nhất: Đó là cách thức học tập: Học như thế nào? Sư phạm tích hợp cho rằng HS cần học cách sử dụng kiến thức của mình vào những tình huống có ý nghĩa, nghĩa là lĩnh hội các năng lực song song với lĩnh hội kiến thức đơn thuần. Tình huống có ý nghĩa đối với HS là những tình huống gần gũi với HS hoặc gần với tình huống mà HS sẽ gặp. Trong SGK, các tình huống có ý nghĩa biểu hiện bằng tranh ảnh, bằng lời hoặc bằng sự kết hợp của hình ảnh, lời, các thí nghiệm, trò chơi.
Tình huống tích hợp là tình huống có ý nghĩa phức hợp, rất gần gũi với các tình huống tự nhiên mà HS sẽ gặp, trong đó có cả thông tin cốt yếu và thông tin nhiễu và có vận dụng các kiến thức,kĩ năng đã học từ trước. Vấn đề thứ hai: Sư phạm tích hợp nhấn mạnh đồng thời việc phát triển các mục tiêu học tập riêng lẻ, cần tích hợp trong quá trình học tập này trong tình huống có ý nghĩa đối với HS. Về các tình huống có vấn đề, đóng góp của sư phạm tích hợp là nhấn mạnh tính liên môn của tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề là tình huống có ý nghĩa chứ không phải là các cớ để học tập.
GV có vai trò tổ chức các hoạt động học tập trong các tình huống có ý nghĩa đó. Về phương pháp dạy học phân hóa, sư phạm tích hợp chủ trương đa số quá trình học tập là những quá trình học tập tập thể, đồng thời vẫn tạo điều kiện để mỗi HS phát triển theo khả năng của mình. Sư phạm tích hợp cũng chủ trương giao nhiệm vụ cho HS thực hiện nhằm đào tạo các em thành những người công dân có trách nhiệm, nhấn mạnh nhiều đến năng lực cần phát triển hơn là nhấn mạnh khâu tổ chức lớp. Sư phạm tích hợp cố gắng giải quyết vấn đề: Làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường? Vấn đề thứ ba: Sư phạm tích hợp đưa ra ba quan điểm về vai trò của mỗi môn học và tương tác giữa các môn học.
Một là: Duy trì các môn học riêng. Hai là: Quan điểm đa môn: Chủ trương đề xuất những đề tài có thể nghiên cứu ở các môn học khác nhau, các môn học này vẫn duy trì riêng rẽ. Ba là: Quan điểm liên môn: Chủ trương đề xuất những tình huống chỉ có thể tiếp cận một cách hợp lý qua nhiều môn học. Bốn là: Quan điểm xuyên môn: Chủ trương chủ yếu phát triển kĩ năng mà HS có thể sử dụng trong tất cả các tình huống (tìm, xử lý, thông báo thông tin,…).
Đó là các kỹ năng xuyên môn. Tuy vậy, nhu cầu xã hội hiện đại đòi hỏi phải hướng tới các quan điểm liên môn và xuyên môn. Đó cũng là hai quan điểm cơ bản của sư phạm tích hợp. Dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học Đáp ứng những thay đổi quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội thì mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói tiêng cũng cần thay đổi, sự thay đổi ấy bắt đầu từ việc đổi mới chương trình và SGK phổ thông.
Hiện nay chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học 2000 đã được đưa vào giảng dạy chính thức từ lớp 1 đến lớp 5. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học 2000 (Theo Điều 5, Chương III, Nghị Định số 43/2000/ NĐ – CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ) được nêu rõ: - Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt và cung cấp Tiếng Việt để học tập ở tiểu học và các bậc học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. - Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản: phân tích, tổng hợp, chứng minh. - Cung cấp những hiểu biết sơ đản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lẽ phải, hình thành lòng yêu mến, thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Từ đó góp phần hình thành nhân cách của người Việt Nam: Có tri thức, có lối sống lành mạnh và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này. - Quan điểm dạy học tích hợp là điểm khác biệt của chương trình và SGK Tiếng Việt Tiểu học mới. Tích hợp trong SGK Tiếng Việt là sự kết hợp hữu cơ, có hệ thống ở từng mức độ khác nhau các kiến thức ở các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn, Chính tả,…Tập đọc có thể được sử dụng làm ngữ liệu để viết Chính tả, ngữ liệu để kể chuyện, ngữ liệu để xây dựng kiến thức mới ở các bài Luyện từ và câu hay được xem như bài văn mẫu để học sinh vận dụng làm văn.Ngược lại, các kiến thức và kĩ năng của các phân môn kia giúp cho việc đọc, tìm hiểu bài, diễn xuất của giờ Kể chuyện có hiệu quả hơn. - Tính tích hợp của SGK Tiếng Việt Tiểu học 2000 thể hiện ở hai phương diện: Tích hợp theo chiều ngang và tích hợp theo chiều dọc.
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn trong Tiếng Việt như Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn trước đây ít gắn bó với nhau, nay đã có mối quan hệ chặt chẽ về nội dung,kĩ năng, phương pháp dạy học. Cụ thể, ngữ liệu dùng để dạy phân môn này cũng đồng thời được sử dụng để dạy phân môn khác, kiến thức và kĩ năng của phần học này được vận dụng để giải quyết nhiệm vụ ở phần học khác và các phân môn đều nhằm luyện bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cần hình thành ở học sinh mà môn Tiếng Việt đề ra. Các nguyên tắc tổ chức dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt 1. Tích hợp theo chiều ngang Tích hợp ngang là tích hợp “trong từng thời điểm” (một tiết học, một bài học).
Đối với môn Tiếng Việt thì đây là tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, tự nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Tập viết) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ hơn trước. Trong bộ SGK, chủ điểm được bình chọn làm khung cho cả cuốn sách. Mỗi chủ điểm ứng với một đơn vị học.
Và các phân môn tập trung thể hiện, làm rõ cho chủ điểm ấy. Tích hợp theo chiều dọc Là tích hợp ‘theo từng vấn đề”, tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới với những kiến thức và kĩ năng đã học ở trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc). Cụ thể là: kiến thức và kĩ năng ở lớp trên, bậc trên bao hàm cả kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới nhưng cao hơn và sâu hơn kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, bậc dưới. Sự khác biệt giữa dạy học tích hợp và dạy học truyền thống Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa dạy học tích hợp và dạy học truyền thống Nội dung Dạy học tích hợp Dạy học truyền thống Quan điểm Tích hợp là tổng hợp Học là quá trình tiếp thu trong một đơn vị học hay và lĩnh hội qua đó hình một bài tập nhiều mảng thành kiến thức, kĩ năng, kiến thức và kĩ năng liên kĩ xảo cho người học.
quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian cho người học. Bản chất Tổ chức các hoạt động Truyền thụ tri thức, nhận thức cho HS để HS chứng minh chân lí của tìm ra chân lí.