ĐẶT VẤN ĐỀ Đau thắt lưng là một triệu chứng bệnh rất phổ biến. Theo Nguyễn Thị Ngọc Lan tỉ lệ đau thắt lưng hằng năm ước tính 5% dân số và 50% người bệnh ở trong độ tuổi lao động [16]. Đau thắt lưng gặp trong rất nhiều bệnh, do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Trong đó, thoái hóa cột sống thắt lưng là nguyên nhân quan trọng và hay gặp.
Theo Nguyễn Xuân Nghiên, số bệnh nhân đau thắt lưng do thoái hóa cột sống vào điều trị tại các khoa khớp, khoa vật lý trị liệu chiếm khoảng 50% so với các bệnh khác [17]. Đau thắt lưng do thoái hóa cột sống tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng đến khả năng lao động, chất lượng công việc, kinh tế của người bệnh do người bệnh không đảm bảo được công việc, phải nghỉ việc, phải chi trả cho việc khám và điều trị bệnh. Y học hiện đại (YHHĐ) có nhiều phương pháp để điều trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống mang lại hiệu quả. Trong đó điều trị nội khoa và phục hồi chức năng được áp dụng nhiều và rộng rãi.
Điều trị nội khoa chủ yếu sử dụng các nhóm thuốc chống viêm giảm đau, thuốc giãn cơ; các phương pháp phục hồi chức năng hay dùng như chiếu tia hồng ngoại, sóng ngắn, siêu âm, kéo giãn cột sống thắt lưng [16]. Các thuốc chống viêm, giảm đau tuy cải thiện triệu chứng nhanh nhưng có thể gây tác dụng phụ đôi khi rất nặng (viêm loét tá tràng, rối loạn tiêu hóa, hội chứng Cushing, xuất huyết tiêu hóa, dị ứng…). Các phương pháp phục hồi chức năng cũng đem lại hiệu quả tốt nhưng chỉ có ít cơ sở phục hồi chức năng có đầy đủ máy móc do kinh phí đầu tư trang thiết bị lớn. Do đó gây khó khăn cho người bệnh, đặc biệt những người bệnh ở xa trong việc tiếp cận điều trị.
Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau thắt lưng thuộc phạm vi "chứng tý", có bệnh danh là “Yêu thống’’. Từ xa xưa, y học cổ truyền đã có nhiều phương pháp để điều trị chứng bệnh này như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, uống thuốc, chườm thuốc hay xông bằng thảo dược,… [14]. Trong các phương pháp điều trị trên, chườm thuốc là một phương pháp dễ áp dụng, nguyên liệu thường dễ kiếm, có hiệu quả tốt và ít tác dụng không mong muốn. Chườm thuốc đã được mô tả trong các tác phẩm Đông y kinh điển, như trong Nội Kinh Tố Vấn - Điều kinh luận [48] có viết: 2 “Bệnh trong xương thì hơ nóng kim châm hoặc dùng thuốc sao nóng chườm vào”; Linh Khu - Thọ yểu cương nhu [49] cũng có viết bài thuốc đem sao nóng để chườm trên da chữa chứng hàn tý (đau khớp do lạnh).
Chườm thuốc là phương pháp chữa bệnh chủ yếu sử dụng tính ôn nhiệt và tinh dầu trong thảo dược để trị liệu. Các thảo dược dùng để chườm thường có tác dụng ôn dương khí, khu hàn tà, thông kinh mạch, điều khí huyết. Một trong những loại thảo dược hay được dùng trong phương pháp chườm thuốc chính là vị thuốc Ngũ trảo. Các nghiên cứu cho thấy lá Ngũ trảo có nhiều tác dụng dược lý như kháng khuẩn, chống nấm, chống oxy hóa, chống dị ứng, trong đó nổi bật là tác dụng chống viêm, giảm đau [27].
Người dân vùng Quảng Nam – Đà Nẵng thường lấy lá Ngũ trảo giã nát, cho vào túi vải sau đó hấp lên cho nóng rồi chườm hay đắp vào vùng đau [54]. Tuy là một trong những phương pháp đơn giản, mang lại hiệu quả điều trị tốt, nhưng đến hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá, làm sáng tỏ tác dụng của phương pháp chườm lá Ngũ trảo kết hợp Xoa bóp bấm huyệt trong điều trị bệnh đau thắt lưng do thoái hóa cột sống. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác dụng của phƣơng pháp chƣờm lá Ngũ trảo kết hợp Xoa bóp bấm huyệt điều trị thoái hóa cột sống thắt lƣng thể phong hàn thấp” với 2 mục tiêu: 1. Đánh giá tác dụng của phương pháp chườm lá Ngũ trảo kết hợp Xoa bóp bấm huyệt điều trị thoái hóa cột sống thắt lưng thể phong hàn thấp.
Theo dõi một số tác dụng không mong muốn của phương pháp điều trị trên lâm sàng. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu sinh lý - bệnh lý vùng thắt lƣng 1. Đặc điểm giải phẫu cột sống thắt lưng - Đoạn thắt lưng gồm 5 đốt sống, 4 đĩa đệm và 2 đĩa đệm chuyển đoạn đây là nơi chịu tải 80% trọng lượng cơ thể, và có tầm hoạt động rộng theo mọi hướng.
Để bảo đảm chức năng nâng đỡ, giữ cho cơ thể ở tư thế đứng thẳng, cột sống thắt lưng hơi cong về phía trước với các góc: + Góc cùng: tạo bởi đường thẳng ngang và đường thẳng chạy qua mặt trên: 30 độ. + Góc thắt lưng cùng: tạo bởi trục L5 và S1: 140 độ + Góc nghiêng xương chậu: tạo bởi đường thẳng ngang với đường thẳng nối giữa ụ nhô với bờ trên xương mu [2]. Các đốt sống thắt lưng 1. Cấu tạo đốt sống thắt lưng Cấu tạo bởi hai phần chính bao gồm thân đốt ở phía trước và cung đốt ở phía sau.
- Thân đốt: là phần lớn nhất của đốt sống, có hình trụ dẹt. Chiều ngang lớn hơn chiều trước sau và chiều cao. Mặt trên và mặt dưới là mâm sụn. - Cung đốt sống: có hình móng ngựa, liên quan hai bên là mỏm khớp liên 4 cuống, mỏm khớp chia cung sống thành hai phần: phía trước là cuống sống, phía sau là lá cung, gai sau gắn vào cung sống ở đường giữa sau, hai mỏm ngang ở hai bên gắn vào cung sống ở gần mỏm khớp, giữa thân đốt sống với cung sống là ống tuỷ.
Riêng L5 thân đốt ở phía trước cao hơn ở phía sau để tạo độ ưỡn thắt lưng. - Mỏm ngang: có hai mỏm ngang chạy từ cung đốt sống ra ngoài. - Gai sống: có một gai dính vào cung đốt sống. - Lỗ đốt sống nằm ở giữa, thân đốt sống nằm ở trước và cung đốt sống nằm ở sau tạo nên ống sống trong đó có tuỷ sống.
Đốt sống thắt lưng 1. Cơ - dây chằng Cơ vận động cột sống: gồm hai nhóm chính là nhóm cơ cạnh cột sống và nhóm cơ thành bụng. Nhóm cơ cạnh cột sống: chạy từ cổ đến xương cùng, có đặc điểm càng nằm sâu thì càng ngắn, nhóm cơ này gồm có cơ cùng thắt lưng (cơ chậu sườn), cơ lưng dài và cơ ngang gai, ba cơ này hợp thành khối cơ chung nằm ở rãnh sống cùng và rãnh thắt lưng. Tác dụng làm duỗi cột sống, đồng thời có thể phối hợp với nghiêng, xoay cột sống.
Nhóm cơ thành bụng, gồm có: - Cơ thẳng: Nằm ở phía trước thành bụng, có hai bó cơ thẳng nằm ở hai bên đường giữa. Vì nằm phía trước trục cột sống, nên cơ thẳng bụng là cơ gập thân người rất mạnh. - Nhóm cơ chéo: Có hai cơ chéo (cơ chéo trong, cơ chéo ngoài). Các cơ chéo 5 có chức năng xoay thân người, khi xoay sang bên trái cần cơ chéo ngoài phải và cơ chéo trong trái hoạt động và ngược lại.
Dây chằng cột sống: Các dây chằng giúp cho cột sống vững vàng đồng thời hạn chế những vận động quá mức của cột sống. Dây chằng dọc trước và dây chằng dọc sau là hai dây chằng dài nhất, đều bắt đầu từ xương chẩm chạy tới xương cùng. - Dây chằng dọc trước, phủ mặt trước cột sống, bám vào thân đốt và đĩa đệm. - Dây chằng dọc sau, phủ mặt sau các thân đốt, bám vào đĩa đệm, không bám vào mặt sau thân đốt, bám vào thân đĩa đệm nhưng không phủ kín phần sau bên của phần tự do.
- Dây chằng vàng dầy và khỏe phủ mặt sau của ống sống. - Các dây chằng liên gai, dây chằng liên mỏm gai, dây chằng trên gai nối các gai sống với nhau. Ngoài những dây chằng, trên đốt L4-L5 còn được nối với xuơng chậu bởi những dây chằng thắt lưng chậu, những dây chằng này đều bám vào đỉnh mỏm ngang L4, L5 và bám vào tận mào chậu ở phía truớc và phía sau. Dây chằng thắt lưng chậu căng dãn giúp hạn chế sự di động quá mức của hai đốt sống thắt lưng L4, L5.
Lỗ liên đốt, sự phân bố thần kinh cột sống Lỗ liên đốt sống: Rễ thần kinh thoát ra khỏi ống sống qua lỗ liên đốt, lỗ này được giới hạn ở phía trước là bờ sau bên của đĩa đệm, ở phía trên và phía dưới là cuống sống của hai đốt kế cận nhau, ở phía sau là mỏm khớp là khớp liên cuống, phủ phía trước khớp liên cuống là bao khớp và phần bên của dây chằng vàng. Phân bố thần kinh cột sống: Từ phía trong rễ thần kinh xuyên qua màng cứng đi ra ngoài tới hạch giao cảm cạnh sống tách ra các nhánh: - Nhánh trước: phân bố cho vùng trước cơ thể. - Nhánh sau: phân bố cho da, cho cơ vùng lưng cùng bao khớp và diện ngoài của khớp liên cuống. - Nhánh màng tủy: đi từ hạch giao cảm, chui qua lỗ liên đốt vào ống sống, chi phối cho các thành phần bên trong bao gồm khớp liên cuống, dây chằng dọc sau, bao tủy.
Do có sự liên quan về giải phẫu nên bất cứ sự thay đổi nào của những thành phần liên quan ở lỗ liên đốt cũng sẽ kích thích rễ thần kinh gây ra đau đớn. Thoái hóa cột sống thắt lƣng Thoái hóa cột sống, hay còn gọi là hư xương sụn đốt sống (osteo- chondrosis). Hư xương sụn đốt sống bao gồm cả thoái hóa đĩa đệm và thoái hóa đốt sống [2]. Thoái hóa đĩa đệm: Quá trình thoái hóa đĩa đệm diễn biến theo 5 giai đoạn: - Vòng sợi ở phía sau bị yếu, lồi ra phía sau ở một điểm do nhân nhầy ấn lõm vào, quá trình này có sự rách đồng tâm trong vòng sợi, tuy nhiên đĩa đệm vẫn còn giữ được chức năng sinh-cơ học và chưa có biểu hiện lâm sàng.
- Có sự rách các sợi Collagen của vòng sợi ở khu vực bờ viền giữa nhân nhầy và bản sụn và lấn tới dần dần hướng ra phía ngoài, áp lực nội đĩa đệm giảm làm cho các đốt sống tiến gần nhau hơn. Có thể gặp trường hợp đau thắt lưng cấp khi có tác động cơ học gây chuyển dịch khối lượng đĩa đệm. - Vòng sợi bị rách cả ở phần ngoại vi của đĩa đệm, đường rách ở một số điểm đã đi hết cả chiều dày vòng sợi. Giới hạn giữa nhân nhầy và lớp trong của vòng sợi biến dạng, lồi lõm, có sự xâm nhập của các tổ chức liên kết, dẫn tới hình thành các tổ chức sợi hạt đĩa đệm.