CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VI LƯỢNG ĐỒNG CĂN 1. Bối cảnh lịch sử 1. Samuel Hahnemann – Người sáng lập Cách thủ đô Berlin của Đức khoảng 160 km, bên bờ sông Elbe rộng lớn ở miền Đông, có một thị trấn cổ của người Saxon1.
Chính tại nơi đây, Christian Friedrich Samuel Hahnemann, người sáng lập ra phương pháp Vi lượng đồng căn (viết tắt VLĐC), đã được sinh ra vào nửa đêm ngày 10 tháng 4 năm 1755, trong một ngôi nhà ba tầng nằm ở một góc phố nhỏ. Cha của ông là Christian Gottfried Hahnemann, một thợ sơn tại nhà máy sản xuất đồ sứ có tiếng tại địa phương và mẹ của ông là bà Johanna Christiane, con gái của Đội trưởng Đội hậu cần (Hình 1. Để tránh nhầm lẫn với các thành viên khác trong gia đình đều được gọi là Christian, đứa bé được gọi là Samuel. Các địa điểm quan tâm đến VLĐC ở Đức 2 Luan van Hình 1.
Nơi sinh của Samuel Hahnemann Hình 1. Gia phả của dòng họ Hahnemann 3 Luan van Hiện tại ngôi nhà đã bị dỡ bỏ để xây dựng lại và trở thành một khách sạn với ở tầng trệt được mở một phòng khám nha khoa, được gắn một tấm biển để tưởng nhớ nơi này về sự ra đời của Hahnemann. Ngoài ra còn có một bức tượng của người sáng lập được gắn trên một cột đá trong một công viên nhỏ Meissen ở trung tâm thị trấn (Hình 1. Tượng Samuel Hahnemann tại công viên Meissen, Đức Khi đến tuổi đi học.
Samuel được nhận vào học lớp hai tại một trường học địa phương. Cậu tỏ ra rất thông minh và học tập hăng say, đặc biệt xuất sắc trong các môn ngôn ngữ. Tuy nhiên, hoàn cảnh kinh tế của gia đình quá khó khăn nên cha cậu đã muốn cho cậu đi học nghề để thiết thực hơn. Ngay trước sinh nhật lần thứ 15 của mình, Samuel được gửi đến làm việc trong một cửa hàng tạp hóa ở Leipzig để lấy những kinh nghiệm cần thiết cho việc trở thành một thương gia theo mong muốn của cha cậu.[2] Điều này cậu hết sức chán nản và cậu đã nhờ mẹ thuyết phục cha cho mình.
Cuối cùng thì cha cậu cũng chấp thuận để cậu có thể được tiếp tục theo đuổi đam mê của mình. Cậu bé Samuel tiếp tục học tập hăng say, thậm chí còn tự làm một chiếc chân đèn bằng đất sét để đặt một cái giá đỡ, nơi mà cậu có thể đặt những cuốn sách lên đó và đọc chúng vào đêm muộn.[2] 4 Luan van Vào mùa xuân năm 1775, khi Samuel tròn 20 tuổi, ông đã rời trường học với số tiền chỉ khoảng €10 và một túi quần áo được gấp cẩn thận, ông nhập học vào Học viện Giáo dục nổi tiếng nhất ở Đức thời bấy giờ, Đại học Leipzig, được thành lập vào năm 1409. Tuy nhiên đến năm 1977 ông phải tạm dừng việc học để xin đi làm thêm tại một bệnh viên để kiếm thêm thu nhập. thời gian này ông đã vừa làm và vừa tự học miệt mài.
Vào năm 24 tuổi, Hahnemann đã thành thạo ít nhất bảy thứ tiếng. Ông đã phiên dịch được hơn 20 các văn bản, bài nghiên cứu về y học và khoa học.[1] Để trang trải cho việc học, Hahnemann phải dành 21 tháng chỉ để biên soạn các mục lục sách cho Thống đốc Transylvania2. Đến năm 1779, ông đã quay trở lại việc học của mình, lần này là tại Đại học Frederick Alexander ở Erlangen, nơi ông lấy bằng y khoa vào tháng 8 năm đó và trở thành một bác sĩ. Bác sĩ Hahnemann đã đảm nhận vị trí nhân viên y tế cho Trung tâm chăm sóc sức khỏe cho thị trấn Gommern với mức lương “khá cao” ngay sau khi ông đính hôn với Johanna Leopoldine Henriette Küchler, con gái của một chủ tiệm thuốc tại địa phương vào năm 1782.
Vào thời điểm này, bệnh tật được xem như một kẻ xâm lược cơ thể, phải chiến đấu bằng bất kỳ hóa chất hoặc phương pháp nào hiện đang được ưa chuộng. Tất cả các phương pháp đều chỉ xoay quanh lấy máu, tẩy rửa, gây nôn, … thậm chí sử dụng cả một lượng lớn hóa chất như asen và thủy ngân để điều trị bệnh. Khi bệnh nhân chết, các thầy thuốc đều đổ lỗi cho nhau - đặc biệt là người cuối cùng từng điều trị cho bệnh nhân đó. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân bình phục, thì tất cả họ đều nhận trách nhiệm.
Ngày càng bất mãn với các phương pháp điều trị đó, đặc biệt là việc khám chữa bệnh lặp đi lặp lại, khiến Hahnemann rút lui hoàn toàn khỏi hành nghề y tế. Gia đình ông chuyển đến Dresden và ông tập trung vào việc viết lách từ năm 1785 đến năm 1789.[11] Hahnemann đã không còn tin vào tay nghề của những dược sĩ pha chế thuốc thời đó và ông bắt đầu việc giảm dần lượng thuốc sử dụng bởi ông tin tưởng vào sức mạnh của “thuốc đơn giản” hoặc các loại thuốc riêng lẻ, thay vì hỗn hợp được pha chế phức tạp. Năm 1793, Hahnemann xuất bản cuốn sách “Apothecaries’ Lexicon” gồm 4 tập và nó được một nhà phê bình mô tả là “một tác phẩm xuất sắc mà mọi tiệm thuốc tây nên có”. Cuốn sách đã nêu ra quy trình pha chế thuốc cần được tuân thủ, bao gồm cả các lưu ý, biện pháp phòng ngừa.
Trong quãng thời gian 5 Luan van về sau này, khi ông đến cư trú tại một thị trấn nhỏ Köthen (Hình 1.1) ở số 270 (sau này là 47) Mauerstraße ('Phố Wall') ông đã viết ra rất nhiều cuốn sách khác như một sự đóng góp đáng kể cho phương pháp chữa bệnh VLĐC.[1] VLĐC và Hahnemann - đã trở nên phổ biến sau mùa đông giá lạnh khủng khiếp năm 1812. Sau thất bại của 'Grande Armée' 3 trong trận chiến kéo dài 3 ngày ở Leipzig vào năm 1813, một trận dịch bệnh thương hàn đáng sợ đã bùng phát. Hahnemann đã điều trị 180 trường hợp bằng phương pháp VLĐC và chỉ mất một bệnh nhân. Danh tiếng của ông nhanh chóng lan rộng khắp châu Âu.[1] Công trình y tế quan trọng cuối cùng của Hahnemann có tựa đề ‘Các bệnh mãn tính, Bản chất và Điều trị Vi lượng đồng căn”.
Cuốn sách ban đầu được xuất bản tại Dresden vào năm 1828, dày đến 1600 trang và năm tập. Nó đã gây ra làn sóng chỉ trích nặng nề trong số các phương pháp VLĐC cũng như các phương pháp vi lượng, do các tuyên bố về tác động rằng bảy phần tám tất cả các bệnh mãn tính là do di truyền hoặc mắc phải 'nhiễm độc'. Năm 1831–1832 một trận dịch tả lan rộng khắp châu Âu khiến nhiều người chết, Hahnemann đã phát hành một số cuốn sách nhỏ về chủ đề này, ủng hộ sử dụng đơn lẻ thuốc Long não 4. Ông công nhận rằng bệnh tả có thể do một sinh vật (hoặc 'miasm') gây ra và bệnh có thể phát triển nặng hơn và lây lan khi tiếp xúc với người khác.
Điều này khiến ông yêu cầu cách ly và khử trùng, cũng có ý kiến cho rằng nhân viên y tế là nguồn lây nhiễm nhiều nhất. Quan điểm này của ông được đông đảo các thành viên giới y khoa thời bấy giờ ủng hộ. Sau thành công này, ngày càng có nhiều bác sĩ từ khắp nước Đức và trên thế giới đến xin lời khuyên từ ông.[1, 2] Vài ngày sau sinh nhật lần thứ 88 của mình, khi sức khỏe của Hahnemann bị ảnh hưởng bởi chứng viêm phế quản, một tình trạng mà ông thường mắc vào mỗi mùa xuân. Lần này bệnh tiến triển nặng hơn và kéo dài khoảng 10 tuần.
Hahnemann tự kê đơn cho mình nhưng ông cũng tự nhận thấy rằng bản thân không thể qua khỏi đợt bạo bệnh này. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 2 tháng 7 năm 1843, Hahnemann đã qua đời. Bà Melanie Hahnemann – người vợ thứ hai của ông đã ướp xác chồng và yêu cầu cảnh sát cho phép để không chôn cất anh ta trong 20 ngày. [1] 6 Luan van Tại khoa VLĐC, trụ sở Hahnemannian House tại Luton có trưng bày một số kỷ vật thú vị bao gồm chiếc mũ Hahnemann đội khi ngồi làm việc (Hình 1.5), ống nghe, bàn làm việc… và một bức ảnh gốc chụp ông vào ngày 30 tháng 09 năm 1841 bởi một thợ nhiếp ảnh của Paris (Hình 1.
Ngoài ra toàn bộ các tài liệu và các tác phẩm kinh điển của Hahnemann cũng đã được một người đồng nghiệp người Đức là Robert Bosch mua lại (Hình 1.8) và được lưu trữ tại Viện Lịch sử y học (IGM - Institut für Geschichte der Medizin der Robert Bosch Stiftung) thành lập năm 1980. Samuel Hahnemann năm 1841 Năm 1898, các nhà chức trách ở Paris đã xử phạt một cuộc khai quật từ ngôi mộ nhỏ ở Montmartre, nơi ban đầu được chôn cất Hahnemann, và cuối cùng ông đã được an nghỉ trong nghĩa trang Père Lachaise xinh đẹp. Buổi lễ có sự tham dự của các đại diện trong ngành y tế từ khắp Châu Âu với một sự tôn trọng và kính nể với những đóng góp của ông cho y học. Hai chiếc mũ lụa và nhung của Samuel Hahnemann 7 Luan van Hình 1.
Hộp thuốc VLĐC đầu tiên của Samuel Hahnemann Hình 1. Hai trong số các cuốn sách kinh điển của Hahnemann 1. Sự ra đời của Vi lượng đồng căn Năm 1790, Hahnemann đã hình thành quan diểm vi lượng đồng căn trong khi dịch một luận văn y tế của một bác sĩ, nhà hóa học nổi tiếng người Scotland là William Cullen (1710–1790) sang tiếng Đức. Các quy trình điều trị bệnh của Cullen cùng với người học trò John Brown (1735–1788) , hầu hết đều dựa trên việc trích máu hoặc sử dụng thuốc chống co thắt và chất kích thích.
Tác phẩm của Cullen đã được xuất bản lần đầu tiên ở London vào khoảng 17 năm trước đó, với một lần tái bản xuất hiện vào năm 1789. Trong ấn bản thứ hai, Tiến sĩ Cullen đã dành 20 trang cho vỏ cây Peru, còn được gọi là Cinchona 5 theo tên Nữ công tước xứ Cinchon. Loại thuốc này được các nhà truyền giáo mang đến Tây Ban Nha vào năm 1640 và đã được sử dụng rộng rãi kể từ đó để điều trị một chứng bệnh khi đó được gọi là 8 Luan van “sốt ague” hoặc “sốt đầm lầy”, hiện nay được gọi là sốt rét. Cullen đã cho rằng Cinchona có hiệu quả vì vị đắng và chát đến khô miệng của nó.
Nghi ngờ giả thuyết của Cullen rằng cây Cinchona chữa được bệnh sốt rét vì nó có vị đắng, Hahnemann đã ăn một số loại vỏ cây của loài cây này để tìm hiểu xem điều gì sẽ xảy ra và ông đã bị sốt, run rẩy và đau khớp. Ông nhận thấy các triệu chứng này tương tự như các triệu chứng của bệnh sốt rét. Từ đó Hahnemann nghĩ rằng tất cả các loại thuốc hiệu quả đều tạo ra những triệu chứng ở người khỏe mạnh tương tự như bệnh mà họ điều trị.