Chương 1 Chương 6 Kết luận Các tiêu chí của quy trình lựa chọn. Đề xuất quy trình lựa chọn. Đánh giá quy trình nội bộ. Đánh giá quy trình từ bên ngoài Chương 3: Phương pháp nghiên cứu -_ Quy trình nghiên cứu.
- Phuong pháp phân tích dữ liệu - AHP. Chương 2: Tổng quan -_ Giới thiệu các khái niệm trong nghiên cứu. -- Tông hợp các nghiên cứu đã công bô.2 — Sơ đề cầu trúc luận văn HVTH: Trần Kim Anh MSHV: 7140090 Chương 2. Tổng quan Trang 8 GVHD: TS Lê Hoài Long CHUONG 2: TONG QUAN 2.
Giới thiệu chương CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN Các khái niệm trong Tổng quan các nghiên luận văn cứu đã công bô Phương thức thực Phương pháp AHP hiện dự án Lựa chọn phương Phương thức thực thức thực hiện dự án hiện dự án XDDD&CN tai VN Đánh giá tổng quát các nghiên cứu trước |4------ Dự án XDDD&CN đây Hình 2.1 — Sơ đồ fóm tắt Chương 2 Chương 2 trình bày các khái niệm được dùng trong luận văn: giới thiệu các phương thức thực hiện dự án phô biến trên thế giới và phân tích hai phương thức chính được ứng dụng trong ngành xây dựng DD&CN tại Việt Nam là Thiết kế/Đấu thầu/Thi công và Thiết kế/Thi công. Trong Chương 2, nội dung quan trọng được trình bày là tổng quan nghiên cứu trên thế giới của nhiều học giả khác nhau trong những năm gần đây về các ứng dụng của mô hình AHP trong nghiên cứu khoa học và các đề tài nghiên cứu phương pháp lựa chọn phương thức thực hiện dự án với nhận thức về tầm quan trọng của quyết định này cho thành công của một dự án. Quá trình phân tích và tổng hợp các nghiên cứu đã công bố cũng là nền tảng để định hướng đề tài cũng như xác định được các tiêu chí ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương thức. HVTH: Tran Kim Anh MSHV: 7140090 Chương 2.
Tổng quan Trang 9 GVHD: TS Lê Hoài Long 2. Các khái niệm sử dụng trong Luận văn Phương thức thực hiện dự án được hiểu là một hệ thống được sử dụng bởi chủ đầu tư nhằm tổ chức, lập ngân sách cho các dịch vụ thiết kế, thi công và bảo trì cho một công trình hay dự án bằng cách tiến hành các hợp đồng với một hay nhiều đơn vị. Trong quản lý xây dựng, phương thức thực hiện dự án xác định các mối quan hệ, vai trò và trách nhiệm cũng như phân bố rủi ro của các bên tham gia, đồng thời đưa ra quy trình hoàn thành dự án (Konchar và Sanvido, 1998). Hiện nay có rất nhiều phương thức thực hiện dự án được áp dụng và phát triển rộng rãi trong ngành xây dựng trên thế giới.
Mỗi phương pháp có những thuận lợi và khó khăn riêng mà chủ đầu tư cần cân nhắc trước khi dự án bắt đầu. Các phương thức thực hiện dự án phổ biến trên thế giới được trình bày đưới đây. Khái niệm phương thức thực hiện dự án 2. Thiết kếĐầu thầu/Thỉ công (Design/Bid/Build) Đầu thế kỷ 20, sự nâng cao trong kỹ thuật thi công và tính phức tạp trong thiết kế đưa đến việc các nhà thiết kế và xây dựng dần chuyên môn hóa và phát triển thành hai đơn vị độc lập, được thuê bởi chủ đầu tư dé cung cấp các dịch vụ riêng biệt của họ, điều này dẫn đến phương thức “Thiết kế/Đấu thầu/Thi công” hay được xem là phương thức truyền thống (Konchar và Sanvido, 1999), Phương thức “Thiết kế/Đấu thầu/Thi công” là phương thức thực hiện dự án phô biến nhất trên thế giới khi dự án được tiến hành trình tự qua ba giai đoạn: thiết kế - đấu thầu chọn nhà thầu thi công - xây dựng và hoàn thiện công trình.
Trong phương thức này, chủ đầu tư sẽ ký hợp đồng trực tiếp và riêng biệt với hai đơn vị thiết kế và thi công. Đơn vị thiết kế sẽ hoàn thành toàn bộ thiết kế, đưa ra tiêu chuẩn kỹ thuật cho dự án trước khi tổng hợp vào một bộ hồ sơ mời thầu. Nhà thầu thi công sẽ được đánh giá và lựa chọn đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ này với mức giá chào thầu thấp nhất. Phương thức “Thiết kế/Đẫu thầu/Thi công” cho phép chủ đầu tư kiểm soát quá trình thiết kế, đặc biệt trong những dự án thiết kế phức tạp và mang đặc trưng riêng biệt theo ý tưởng của chủ HVTH: Tran Kim Anh MSHV: 7140090 Chương 2.
Tổng quan Trang 10 GVHD: TS Lê Hoài Long đầu tư. Quá trình đấu thầu giúp chủ đầu tư lựa chọn được mức giá cạnh tranh và biết được tông chi phí trước khi tiến hành xây dựng. Khi giai đoạn thi công bắt đầu đã bộc lộ nhiều vấn đề trong phương thức này. Đôi khi thiết kế không có tính khả thi khi đưa vào thi công, cũng như khác biệt giữa dự toán giá thầu với chỉ phí xây dựng thực tế dẫn đến việc vượt ngân sách.
Chủ đầu tư buộc phải xem xét lại phương án thiết kế, đấu thầu lại hoặc ngừng dự án, thời gian thực hiện dự án kéo dài và khiến mối quan hệ các bên trở nên căng thẳng. Với phương thức này, đơn vị thiết kế và nhà thầu có trách nhiệm giám sát và kiểm tra những vấn đề hay sai sót trong quá trình thi công. Tuy nhiên, vì hạn chế kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực của nhau, nên mâu thuẫn thường xảy ra giữa hai đơn vị này. Mặc dù vậy, điều này lại mang đến lợi ích cho chủ đầu tư khi vấn đề chất lượng dự án luôn được kiểm soát và báo cáo xuyên suôt dự án.
Phương thức “Thiết kế/Đấu thầu/Thi công” mang lại nhiều thuận lợi khi dự án đã xác định rõ phạm vi công việc với thời gian thiết kế không cấp bách và những thiết kế được hoàn thiện, hạn chế thay đổi khi đi vào thi công. Những công trình đầu tư hiện nay, tuy vậy, không thể đáp ứng được các yêu cầu trên khi dự án ngày càng phức tạp về kỹ thuật cũng như sự trưởng thành của chính ngành xây dựng, khiến nhu cầu thực hiện dự án trong khoảng thời gian rút ngắn ở mức chỉ phí giới hạn ngày càng cao, đòi hỏi chủ đầu tư phải tìm kiếm những phương thức mới (Gordon, 1994). Quan lý xây dựng (Construction management) 2. Tư vấn quản lý xây dựng (CM Ageney) Phương thức này dần phát triển như một giải pháp cho chủ đầu tư về vấn đề thiếu năng lực và kinh nghiệm thực hiện dự án, khi một đơn vị tư vấn được chọn làm đại diện chủ đầu tư kiểm soát và kết nối tại các giai đoạn dự án.
Giai đoạn thiết kế, đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm xem xét tính khả thi của thiết kế, đánh giá chi phi và tiến độ cũng như yêu cầu chất lượng trước khi HVTH: Tran Kim Anh MSHV: 7140090 Chương 2. Tổng quan Trang 11 GVHD: TS Lê Hoài Long đánh giá các hồ sơ dự thầu và tư vấn chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu phù hợp. Trong suốt giai đoạn thi công, đơn vị này giám sát và phân bổ các công tác của nhà thầu. Tư vấn quản lý hướng đến việc kết nối và giải quyết xung đột các bên, giúp quá trình phát triển dự án được tiến hành thuận lợi.
Trong phương thức “Tư vấn quản lý xây dựng”, đơn vị quản lý xây dựng có thê phối hợp với thiết kế hay nhà thầu thi công nhằm đây nhanh thời gian thực hiện với khả năng thi công một phần công trình trước khi hoàn thành thiết kế, đồng thời hạn chế chỉ phí phát sinh, nhưng không đảm bảo về chỉ phí dự án cũng như không chịu trách nhiệm về các hợp đồng thương mại vốn được quản lý bởi chủ đầu tư. Hiện nay vẫn có nhiều ý kiến tranh cãi về việc liệu đây có phải là một phương thức thực hiện dự án. Theo Jeelani vcs, (2013) don vi tu vấn không chịu trách nhiệm thực hiện quá trình xây dựng, chỉ cung cấp dịch vụ giám sát, tuy nhiên không đưa ra cam kết về chi phí, tiến độ cũng như chất lượng công trình. Mặc dù không giới hạn trong quy mô dự án, phương thức này thường được áp dụng trong các dự án lớn, phức tạp, khi chủ đầu tư mong muốn bổ sung các chuyên gia trong đội ngũ của mình.
Do đó, “Tư vấn quản lý xây dựng” có thể được sử dụng với bất kỳ hình thức thực hiện dự án nào. Ngoài ra, phương thức này cũng được đánh giá là khiến chủ đầu tư tăng thêm chỉ phi quản lý. Tổng thâu — tư vẫn (CM at risk/General manager) Ý tưởng về việc nhà thầu tham gia từ giai đoạn thiết kế và đóng vai trò tương tự như đơn vị tư vấn quản lý xây dựng (CM Agency) dan trở nên phổ biến, với kỳ vọng giải quyết được những hạn chế của phương thức truyền thống. Trong phương thức “Tổng thầu - tư vấn”, một nhà thầu tổng được lựa chọn cho quá trình thi công dự án, chịu trách nhiệm và rủi ro trong việc đảm bảo dự án được hoàn thành trong một mức giá thương thảo ban đầu.
Đồng thời, đơn VỊ này cũng hỗ trợ và tư vấn chủ đầu tư về tiến độ, ngân sách và tính khả thi của thiết kế trong suốt giai đoạn thiết kế và lập kế hoạch dự án. Tổng thầu cũng bắt HVTH: Tran Kim Anh MSHV: 7140090 Chương 2. Tổng quan Trang 12 GVHD: TS Lê Hoài Long đầu chọn thầu phụ trong thời gian đó. Bằng cách này, phương thức “Tổng thầu — tư vấn” mang đến chủ đầu tư những thuận lợi khi công trình có thể được tiến hành xây dựng khi phần thiết kế vẫn chưa kết thúc.
Chủ đầu tư và nhà thầu sẽ thương lượng một mức giá tối đa dựa trên một phần thiết kế đã phê duyệt và bao gồm đề xuất của nhà thầu cho phần còn lại, và chi phí dự phòng dự án như lạm phát, điều chỉnh giá vật tư và những thay đổi trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến chủ đầu tư. Tuy nhiên, bat lợi chính của phương thức này liên quan đến quan hệ hợp đồng giữa thiết kế, khi mức giá đã được ấn định, có thể dẫn đến tranh cãi về phần còn lại của thiết kế. Khi bước vào giai đoạn thi công, từ vai trò tư vẫn chuyên qua vị trí tổng thầu, những căng thăng giữa các bên trong ràng buộc về tiễn độ, chi phí, chất lượng công trình và thiết kế có thể gia tăng, tương tự phương thức “Thiết kế/Đấu thầu/Thi công” (CMAA, 2012). Thiết ké/Thi công (Design/Build) Phương thức “Thiết kế/Thi công” ngày càng được ưa chuộng và được xem là giải pháp hoàn hảo cho những hạn chế của các phương thức khác (Mahdi và Alreshaid, 2005).