MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Các công trình thuỷ điện có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, góp phần đảm bảo nhu cầu năng lượng trong đời sống và sản xuất của nhân dân. Để xây dựng một công trình thuỷ điện, công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư (TDC) phải được thực hiện ở giai đoạn đầu tiên. Mặc dù các dự án thủy điện thường được triển khai xây dung tại miền núi, nơi ít có dân cư sinh sống hoặc dân cư thưa thớt, tuy nhiên không tránh khỏi phải di chuyển những cộng đồng dân cư sinh sống trong phạm vi lòng hồ thuỷ điện.
Những cộng đồng dân cư này chủ yếu là người dân tộc thiêu số với tập quán sản xuất, sinh hoạt và nền văn hoá lâu đời. Vì vậy, việc di dời và TĐC người dân trong các công trình thủy điện khiến cho đời sống của người dân vùng TDC gặp phải nhiều biến động hơn. Do đó rất cần có những chính sách và biện pháp đặc biệt trong công tác di dân, TĐC nhằm giảm thiêu tác động tiêu cực đên tải nguyên, con người. Công tác đền bù va TDC tuy được chính phủ quan tâm đầu tư dé làm sao bảo đảm cuộc sống cho người dân trong những vùng bị ảnh hưởng tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó vấn đề đảm bảo đời sống kinh tế, an sinh xã hội nơi ở mới thật sự chưa được quan tâm đúng mức và chưa được thực hiện một cách hoàn chỉnh và bên vững.
Việc khôi phục sinh kế đóng vai trò rất quan trọng trong việc giảm thiểu nguy cơ rủi ro cho những người phải tái định cư bắt buộc. Bởi vì, đây là những người bị tước đi những tài sản, lối sống, tập quán sản xuất vốn có của minh dé chuyển đến một môi trường mới với những điều kiện sản xuất mới, văn hoá mới, cộng đồng mới. Họ rất dễ bị cô lập hoặc bị động so với thời điểm trước khi phải tái định cư. Việc xây dựng các công trình thuỷ điện cũng như những công trình quốc gia lớn khác là không tránh khỏi trong tiến trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Điều đó có nghĩa là sẽ vẫn còn những cộng đồng dân cư sẽ buộc phải di dời dé dành mặt bằng cho những công trình đó. Từ đó, vấn đề cần đặt ra là làm thế nào để giảm thiểu tối đa những tác động không mong muốn đối với người dân phải tái định cư thông qua việc tạo lập một sinh kế bền vững cho người dân tái định cư. Thủy điện Bản Chát là công trình thuỷ điện có quy mô lớn ở Việt Nam. Đây cũng là công trình có quy mô di chuyên dân để giải phóng mặt bằng lớn nên cần có những chính sách và biện pháp đặc biệt trong công tác di dân, tái định cư nhằm giảm thiêu tác động tiêu cực đến tài nguyên, con người, “bảo đảm cho người dân có cuộc sống, nơi ở mới tot hơn hoặc bang nơi ở cữ” như chủ trương, chính sách của Dang, Nhà nước ta đã xác định.
Từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài : “Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dự an di dân tái định cw phục vụ việc xây dựng thủy điện Ban Chat huyện Than Uyên ” 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu Dé tài nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tê xã hội của dự án di dân tái định cư và ảnh hưởng của dự án di dân tái định cư đôi với vùng nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu, đánh giá các vấn đề liên quan đến tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân vùng tái định cư thủy điện Bản Chát bao gồm việc xây dựng và triển khai các dự án TĐC và các dự án phát triển kinh tế - xã hội khác có liên quan trực tiếp đến kinh tế, đời sống xã hội của các hộ TĐC thuộc công trình thuỷ điện Bản Chát từ năm 2006 đến nay.
Mục đích nghiên cứu của luận văn Nghiên cứu, đánh giá đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án di dân tái định cư phục vụ xây dựng thuỷ điện Bản Chát huyện Than Uyên. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu a. Cách tiếp cận của đề tài Cách tiép cận trong triên khai các nội dung nghiên cứu cua đê tài là kê thừa tôi đa các tư liệu, tải liệu, kêt quả nghiên cứu đã có, đặc biệt là sô liệu liên quan đên tình hình di dân, tái định cư của công trình thủy điện Ban Chat. Kế thừa kết hợp đúc rút, học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài nước: Việc kế thừa tất cả các kết quả nghiên cứu đã có trên cơ sở chọn lọc và điều chỉnh cho phù hợp là rất cần thiết.
Các công trình nghiên cứu hiện đã và đang thực hiện ở các cơ quan, đơn vi bao gồm cả những số liệu cơ bản về di dân, tái định cư và quy hoạch phát triển sản xuất huyện Than Uyên sẽ được thu thập, phân tích, tong hợp và nghiên cứu, sử dụng trong đề tài. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính, sau đây: -Phương pháp thu thập thông tin: Tiến hành rà soát mọi tài liệu, văn bản pháp lý hiện có được thu thập tai địa bàn huyện Than Uyên thông qua các đơn vi liên quan đến dự án di dân tái định cư, như: Ban Quản lý dự án Thủy điện 1, Ban di dân tái định cư huyện Than Uyên,. - Phương pháp kế thừa: tông hợp, phân tích các nghiên cứu, tài liệu đã được thực hiện trước đây, kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có cả trong và ngoài nước; -Phương pháp điều tra xã hội học: + Lựa chọn địa bàn điều tra: Dựa trên các xã, bản khu dân cư trong khu vực tái định cư của dự án Thủy điện Bản Chát, tôi chọn các khu vực tái định cư để điều tra là: Xã Tà Hừa, Mường Kim, Phúc Than và Tà Mung. + Xác định đối tượng điều tra: Các hộ điều tra là các hộ di dân tái định cư đến nơi ở mới thuộc công trình thủy điện Bản Chát.
+ Kích thước mẫu điều tra: Dựa trên đặc điểm và điều kiện tự nhiên của các khu TDC, tôi lựa chọn 40 hộ điều tra phân đều cho các xã trên địa bàn điều tra. -Phương pháp phân tích, đánh giá, tong hợp và xử lý thông tin, dữ liệu: Sau khi đã thu thập, kế thừa và có số liệu điều tra sẽ tổng hợp phân tích và đánh giá. 3 CHUONG 1 TONG QUAN VE CÔNG TÁC DI DAN TAI ĐỊNH CƯ KHI XAY DUNG THUY DIEN 1.1 Di dân tái định cư khi xây dựng thuỷ điện và những van dé phát sinh 1.1 Di dân Di dân là quá trình phân bồ lại lực lượng lao động và dân cư, và là nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Di dân và quá trình tập trung dân số ở địa bàn nơi đến luôn đặt ra những thách thức mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đặc biệt trong mối quan hệ với các nguồn lực tự nhiên, môi trường của các vùng miên đât nước.
Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyên dịch bat kỳ của con người trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự đi động dân cư. Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyền dân cư từ một đơn vị lãnh thô này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định. Tóm lại, khái niệm di dan có thé được tóm tắt theo các điểm chung như sau: - Người di dân di chuyền ra khỏi một dia du nào đó đến nơi khác sinh sống.
- Người di chuyên bao giờ cũng có những mục đích, họ đên một nơi nao đó và định cư tại đó trong một thời gian dé thực hiện mục dich đó. - Di dân găn liên với sự thay đôi công việc, nơi làm việc, công việc nghê nghiệp, sở thích, lối sống, ve Có nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau như: - Khoảng cách di chuyên, gồm có: di dân nông thôn - thành thị, di dân nông thôn - nông thôn. - Độ dài thời gian cư trú, gồm có: di chuyền ôn định, di chuyền tạm thời, di dân mùa vu,. - Tinh chat di dan: + Di dân tự nguyện: là trường hợp người di chuyên tự nguyện di chuyển theo đúng mong muôn hay nguyện vọng của mình.
+ Di dân ép buộc: diễn ra trái với nguyện vọng di chuyên của người dân. Loại hình di chuyền này thường đem lại những hậu quả không mong muốn cho xã hội và cần được hạn chế tối đa. - Theo đặc trưng di dan: + Di dân có tổ chức: là hình thái di chuyển dan cư được thực hiện theo kế hoạch va theo chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra và tô chức, thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thé xã hội. và nguyên tắc, người dân di chuyên có tổ chức được nhà nước và chính quyền địa phương nơi nhập cư giúp đỡ.
Di dân có tổ chức có thể giảm bớt khó khăn cho những người nhập cư, tăng nguồn lực lao động địa phương, có thê tránh được việc khai thác tải nguyên thiên nhiên bừa bãi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường. + Di dân tự phát (tự do): là hình thái di dân mang tính cá nhân do bản thân người di chuyền hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước và câc cấp chính quyền. Di dân tự phát phản ánh tính năng động và vai trò độc lập của cá nhân và hộ gia đình trong việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm.12 Tải định cư a) Tai định cư Tái định cư là việc phải đi chuyển đến một nơi khác để sinh sống, đây là thuật ngữ chung liên quan tới bị thu hồi đất, mat đất, mat chỗ ở, mat tài sản, mat nguồn thu nhập hay mất những phương tiện kiếm sống khác. Theo khái niệm của Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1995, tái định cư được phân loại dựa trên thiệt hại của người tái định cư: - Thiệt hại về tài sản sản xuất, bao gồm đất đai, thu nhập và đời sống.
- Thiệt hại về nhà ở, có thể là toàn bộ cộng đồng và các hệ thống, dịch vụ kèm theo. - Thiệt hại vê các tài sản khác.