CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan về tham nhũng 1. Khái niệm, nguyên nhân và tính chất của tham nhũng Khái niệm: Tham nhũng và các giải pháp liên quan đến phòng chống tham nhũng là một trong những vấn đề được trích dẫn và thảo luận nhiều nhất trong khoa học xã hội. Vậy tham nhũng là gì? Theo tác giả Basyal, Proual, Seo (2018), tham nhũng là: “các hành vi lạm dụng chức vụ công để hưởng tư lợi trực tiếp hoặc gián tiếp”.
Theo luật phòng chống tham nhũng, Việt Nam (2018), tham nhũng là: “hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Theo từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là: “lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của”. Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) định nghĩa tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là: “sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng” Theo tổ chức ngân hàng thế giới (World Bank, 1997) về tham nhũng là: “việc lạm dụng quyền lực công cộng vì lợi ích riêng tư”. Định nghĩa về tham nhũng được đề cập trong báo cáo OECD là: “hoạt động hoặc thụ động sai sức mạnh của các quan chức công cộng (được chỉ định hoặc bầu) cho tài chính tư nhân hoặc các lợi ích khác” (OECD 1998).
Qua các khái niệm về tham nhũng mà nhóm nghiên cứu đã tiếp cận được, có thể thấy rằng khái niệm về tham nhũng khá đa dạng và nhiều chiều cạnh khác nhau. Tham những là một hiện tượng xã hội, chính trị và sinh thái phức tạp, phổ biến ở tất cả các quốc gia ở các mức độ khác nhau. Cho đến nay vẫn chưa có quan điểm nào được quốc tế thống nhất chung toàn cầu về khái niệm và ý nghĩa của tham nhũng. Các định nghĩa tiêu biểu về tham nhũng ở trên và hầu hết các định nghĩa về tham nhũng mà nhóm nghiên cứu tiếp cận được đều nhấn mạnh vào khía cạnh lạm dụng quyền lực công để thực hiện các mục tiêu hướng vào lợi ích cá nhân.
Mặc dù định nghĩa này đã được chấp nhận rộng rãi và cách hiểu như vậy được hầu hết các nghiên cứu đề xuất và nhấn 4 mạnh khi đề cập tới khái niệm tham nhũng, nhưng một số nhà phê bình đã nhận thấy rằng định nghĩa như vậy vẫn chưa thể hiện được hết nội hàm của tham nhũng vì vẫn còn thiên lệch về mặt văn hóa và quá phiến diện (UNDP, 2008). Tham nhũng có thể được tìm thấy dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng tất cả các hình thức của định nghĩa đều có những điểm tương đồng. Nguyên nhân và tính chất của tham nhũng: Tham nhũng được giải thích dựa trên các yếu tố khách quan và chủ quan. Tuy nhiên, có mô hình tiêu biểu để giải thích sâu sắc vấn đề tham nhũng là mô hình “principal – agent - client model”.
Mô hình này được nghiên cứu và phát triển bởi Klitgaard (1988) dựa trên vấn đề chính là bất cân đối thông tin. Ở mô hình này, principal được hiểu nghĩa là người thừa hành, là người được bầu chính thức ra để đại diện cho Nhà nước và công dân. Mô hình cũng đã giả định rằng những người ủy nhiệm sử dụng các nhân viên hành chính công (agent) để cung cấp dịch vụ cho công dân (khách hàng – client). Vấn đề ở đây chính là sự hiểu biết của các tầng lớp trong mô hình.
Cụ thể, người thừa hành có hiểu biết sâu hơn về nhân viên hành chính công và nhân viên hành chính công lại hiểu nhiều hơn về khách hàng. Do đó nếu nhân viên hành chính công lợi dụng được quyền giao phó của người thừa hành để theo đuổi mục đích riêng của mình thì sẽ dẫn đến tham nhũng. Vì vậy, qua mô hình trên cho thấy được nguồn gốc của tham nhũng là bắt nguồn từ hai yếu tố: bất cân đối thông tin và quyền lực được giao phó (Klitgaard, 1988). Theo các tài liệu nghiên cứu về tham nhũng của Park & cộng (2019), tham nhũng chủ yếu tập trung vào ba vấn đề chính: các yếu tố quyết định tham nhũng, hậu quả của tham nhũng và các chiến lược chống tham nhũng.
Theo AIDT (2003) và Jane (2001) cho rằng tham nhũng có ba yếu tố. Đầu tiên, ai đó phải có quyền lực hoặc thẩm quyền tùy ý để thiết kế quy định hoặc quản lý chính sách kết quả. Thứ hai, đặc quyền đặc lợi do quyền lực tạo ra, tức là phải có giá thuê kinh tế liên quan đến sức mạnh này. Thứ ba, nó yêu cầu một hệ thống pháp lý hoặc tư pháp làm giảm xác suất phát hiện và trừng phạt các quan chức tham nhũng.
Do đó cơ hội tham nhũng phát sinh bất cứ khi nào các quan chức hành động liên quan đến việc thực hiện quyền quyết định và không thể được theo dõi hoàn hảo (Rose- Ackerman, 2003). Trên thị trường tham nhũng, cả hai bên của một giao dịch phải đồng ý tham 5 nhũng (Jane, 2001). Ví dụ, các nhà quản lý của các công ty tư nhân, thông qua sự kiểm soát của họ thì tài nguyên quản lý và công ty có thể mua chuộc các quan chức công cộng để đảm bảo các dự án công cộng. Mặt khác, các dự án công cộng, hành động tự tin, có thể chấp nhận hối lộ từ công dân và các tập đoàn để tối đa hóa sự giàu có của họ (Rose-Ackerman,2003).
Phân loại các hình thức của tham nhũng: Theo nghiên cứu của Andvig và cộng sự (2000), tham nhũng về cơ bản xảy ra dưới bốn hình thức chính: hối lộ, tham ô, gian lận và tống tiền. • Hối lộ được hiểu là việc trả (bằng tiền hoặc hiện vật) được đưa hoặc nhận trong một mối quan hệ tham nhũng. Đó là các khoản thanh toán hoặc lợi nhuận cần thiết hoặc được yêu cầu để làm cho các quy trình được tiến hành nhanh chóng, suôn sẻ hơn hoặc thuận lợi hơn thông qua các cơ quan hành chính của Nhà nước từ cấp Trung ương đến địa phương. • Tham ô là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do mình quản lí thành tài sản riêng (Theo Bộ luật hình sự Việt Nam, 2020).
• Gian lận là một hành vi phạm pháp liên quan đến một số loại thủ đoạn, lừa bịp hoặc gian dối trong lĩnh vực kinh tế. Nó liên quan đến việc các quan chức công quyền thao túng hoặc bóp méo thông tin, sự thật và chuyên môn vì lợi nhuận của chính họ. • Tống tiền là tiền và các nguồn lực khác được khai thác bằng cách sử dụng cưỡng bức, bạo lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Theo nghiên cứu của UNDP (2008), một cách phổ biến khác để phân biệt các hình thức tham nhũng khác nhau là chia thành quy mô và mức độ của tham nhũng, bao gồm: tham nhũng quy mô nhỏ và tham nhũng quy mô lớn.
Ở quy mô nhỏ, tham nhũng xảy ra khi công dân tiếp xúc với các quan chức cấp thấp đến trung cấp ở những nơi như bệnh viện, trường học, bộ phận cảnh sát và các cơ quan quan liêu khác. Quy mô giao dịch tiền tệ liên quan là nhỏ và chủ yếu tác động đến các cá nhân, đặc biệt gây ra tác động tiêu cực nhất cho nhóm người nghèo và người yếu thế trong xã hội. Tham nhũng quy mô lớn thường xảy ra đối với các quản lý Nhà nước cấp cao, quy mô giao dịch tiền tệ hoặc lợi ích kinh tế phi pháp lớn. Tham nhũng quy mô lớn có thể không thể hiện trực tiếp bằng các khoản giá trị bằng tiền tệ, mà cũng có thể liên quan đến việc hệ thống chính sách và các quy tắc Nhà nước bị bóp méo một cách bất 6 công.
Tham nhũng quy mô lớn thường đi kèm với những lợi ích hay đi kèm với tham nhũng chính trị. Hậu quả tiêu cực của tham nhũng đối với nền kinh tế - xã hội: Tuy nhiên, dù được nhìn nhận dưới góc độ nào và thực tế vẫn chưa có một khái niệm được thống nhất chung về tham nhũng thì hiệu quả tiêu cực của tham nhũng gây ra cho sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội đều được quan tâm và thấy rõ trong các nghiên cứu. Hậu quả của tham nhũng cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiến hành điều tra trên các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội,.Chẳng hạn, ở lĩnh vực kinh tế, tham nhũng làm giảm đầu tư tư nhân (Seligon,2002). Các nước tham nhũng thường kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Xu hướng thể hiện thu nhập bất bình đẳng trong các tầng lớp xã hội khác nhau ở các khu vực hoặc quốc gia có mức độ tham nhũng cao. Phần lớn, những người hoặc đơn vị ở tầng lớp thấp thường không sẵn lòng trả bất kì một khoản hối lộ nào. Ngoài ra, hối lộ còn được thể hiện trong các loại hàng hóa cần thiết để tồn tại, hàng hóa này sẽ được chuyển đến những người sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn hơn để sở hữu (bất hợp pháp) những thứ này. Ở lĩnh vực chính trị, các cơ quan trong Nhà nước, Chính phủ cho rằng: “hầu hết các hoạt động tham nhũng luôn tìm cách tối đa hóa mức thu nhập của họ”.
Điều này thường được thể hiện rõ nét thông qua các quỹ dành cho đầu tư công và thông qua các hối lộ cho các công ty và doanh nghiệp khu vực. Theo Nguyên & Dương (2022), không cho phép các khoản thu chi tiêu công đến các vùng cần thiết của đất nước, cơ sở hạ tầng, trình độ y tế và giáo dục của họ mất đi một mức về chất lượng tương tự, sẽ làm giảm nguồn thu thuế của Chính phủ. Dù trong môi trường nào, sự hiện diện của tham nhũng làm giảm phúc lợi của dân chúng và tai nạn tăng và tạo một cảm giác bất an, thường trực trong người dân, bởi vì nhiều tham nhũng khiến chính quyền phớt lờ luật pháp và hành dộng theo ý muốn. Điều này có khả năng làm tăng sự sẵn sàng phá vỡ quy tắc của công chúng (Villoria, Van Ryzin & Lavena,2013).
Cuối cùng, các chiến lược chống tham nhũng được phát triển và thực hiện ở khắp nơi trên thế giới. Các giải pháp đó được phân loại thành ba các tiếp cận khác nhau nhưng bổ sung cho nhau như cải cách hành chính, thực thi pháp luật và trao quyền cho xã hội (Park & cộng sự, 2019). Các chỉ tiêu đo lường tham nhũng • Chỉ số nhận thức về tham nhũng: Chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI – Corruption Perception Index) là một thước đo đánh giá các quốc gia dựa trên mức độ nhận thức về tham nhũng của họ, trên thang điểm từ 0 (tham nhũng cao) đến 10 (hoàn toàn minh bạch).