Phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục. Luan van 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG XE BUÝT 1. Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội trong vận tải hành khách bằng xe buýt 1. Hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả kinh tế - xã hội trong vận tải hành khách bằng xe buýt * Hiệu quả kinh tế - xã hội Trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống KT - XH nói chung, hiệu quả bao giờ cũng là vấn đề được các chủ thể quan tâm hàng đầu.
Theo nghĩa chung nhất thì: Hiệu quả là một khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Ngày nay, trong các hoạt động KT - XH chúng ta thường đề cập ba loại hiệu quả cơ bản đó là: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị xã hội và hiệu quả môi trường. Tùy vào lĩnh vực, loại hình, tính chất nhiệm vụ và thời điểm hoạt động của mỗi tổ chức, cá nhân để chúng ta xác định đâu là hiệu quả cơ bản cần đạt tới. Khi nghiên cứu về vấn đề này, các tài liệu khoa học đều thống nhất nhận thức về khái niệm hiệu quả kinh tế và xã hội như sau: - Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế dùng so sánh kết quả sản xuất của các chủ thể kinh tế nhận được với chi phí mà họ bỏ ra trong quá trình tái sản xuất, nhằm kết hợp hài hòa các lợi ích, từng bước nâng cao lợi ích kinh tế cơ bản, hiện thực hóa mục tiêu của nền sản xuất.
- Hiệu quả xã hội là thước đo của mỗi bước tiến của tiến bộ xã hội trong không ngừng tạo ra và nâng cao các điều kiện sống, điều kiện làm việc, phúc lợi xã hội cho sự phát triển con người một cách toàn diện, phát triển các quan hệ xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Luan van 13 Những hiệu quả này được thể hiện sinh động ở mức đóng góp vào sự vững mạnh, ổn định của đất nước, giữ vững an ninh xã hội; mang lại công ăn việc làm; góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Nhằm phát triển con người toàn diện cả về sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ văn hoá, nâng cao mức sống, lối sống và chất lượng cuộc sống của con người trong xã hội. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ biện chứng, thống nhất chặt chẽ với nhau, làm tiền đề và tạo điều kiện cho nhau phát triển, do vậy trong hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác không nên đề cao, tuyệt đối hóa hoặc hạ thấp một loại hiệu quả nào.
Như vậy, theo quan niệm chung nhất, Hiệu quả kinh tế - xã hội trong vận tải hành khách bằng xe buýt là một phạm trù kép, phản ánh kết quả đạt được trong việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu về kinh tế - xã hội. Là tỷ lệ giữa kết quả và lợi ích đạt được với những nguồn lực mà xã hội đã chi phí cho việc duy trì và bảo đảm hoạt động của loại hình dịch vụ này trong một khoảng thời gian nhất định Tóm lại, hiệu quả KT - XH là một phạm trù kinh tế khách quan, bao hàm trong đó hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, được tính toán dựa trên cơ sở so sánh giữa kết quả thu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí các nguồn lực để đạt được kết quả. Đồng thời, gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội phát sinh khi sử dụng các nguồn lực để đạt được hiệu quả kinh tế cao và bền vững. * Hiệu quả kinh tế - xã hội trong vận tải hành khách bằng xe buýt Vận tải hành khách bằng xe buýt là một trong những phương thức vận chuyển hành khách chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong các thành phố, cũng như từ các thành phố đến các khu đô thị vệ tinh bằng ô tô theo tuyến cố định, có điểm dừng đón trả khách dọc tuyến, xe chạy theo biểu Luan van 14 đồ vận hành quy định, có thu tiền theo quy định của từng Thành phố.
Mục tiêu phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong các đô thị ở nước ta hiện nay là cung cấp dịch vụ xe buýt thuận tiện, tiện nghi và an toàn, phù hợp với nhu cầu đi lại của đa số người dân nhằm khuyến khích người dân ưu tiên sử dụng xe buýt, tạo tiền đề cho việc hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân, góp phần giảm ùn tắc, kiềm chế tai nạn giao thông và giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong các thành phố. Từ sự phân tích trên đây, tác giả đưa ra quan niệm về hiệu quả kinh tế - xã hội trong vận tải hành khách bằng xe buýt như sau: Hiệu quả kinh tế - xã hội trong vận tải hành khách bằng xe buýt là một phạm trù kép, phản ánh kết quả đạt được trong việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu về kinh tế gắn với các nhiệm vụ và mục tiêu về xã hội. Là tỷ lệ giữa kết quả và lợi ích đạt được với những nguồn lực mà xã hội đã chi phí cho việc duy trì và bảo đảm hoạt động của loại hình dịch vụ này trong một khoảng thời gian nhất định. Nội hàm của khái niệm thể hiện một số vấn đề sau: Thứ nhất: Hiệu quả kinh tế xã hội trong vận tải hành khách bằng xe buýt là một “phạm trù kép”, vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù: Tính phổ biến là do vận tải hành khách bằng xe buýt cũng là một loại hình sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, nó phải được đặt trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với các loại hình sản xuất kinh doanh khác của toàn bộ nền kinh tế, mà trước hết, là trong nội bộ của ngành dịch vụ vận tải hành khách công cộng. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh chính là động lực cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải hành khách bằng xe buýt phải không ngừng nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ. Hệ quả là hiệu quả kinh tế xã hội của nó ngày càng được nâng lên.
Như vậy, tính phổ biến của hiệu quả kinh tế xã hội trong vận tải hành Luan van 15 khách bằng xe buýt đặt ra yêu cầu là cần phải tạo ra cơ chế cạnh tranh bình đẳng, trước hết là trong nội bộ khu vực vận tải hành khách công cộng, hạn chế thấp nhất tình trạng bao cấp, độc quyền làm cho chất lượng dịch vụ không được cải thiện và hiệu quả kinh tế xã hội thấp. Tính đặc thù của hiệu quả KT - XH trong vận tải hành khách bằng xe buýt được quy định bởi chức năng và nhiệm vụ của nó. Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là nét đẹp trong văn minh đô thị ở hầu hết các nước trên thế giới. Đối với các đô thị ở nước ta hiện nay, loại hình dịch vụ này đang ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, nếu để các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này tự trang trải và hạch toán thì chắc chắn giá dịch vụ sẽ tăng cao, điều đó sẽ cản trở việc thực hiện mục tiêu thu hút ngày càng nhiều người dân tham gia sử dụng dịch vụ xe buýt nhằm giảm ùn tắc, tai nạn giao thông và ô nhiễm môi trường. Để giải quyết mâu thuẫn này, hầu hết chính quyền các đô thị đều thực hiện các biện pháp trợ giá cho người sử dụng, có chính sách ưu đãi về tài chính ổn định cho các doanh nghiệp, đầu tư về phương tiện, hạ tầng đô thị, bến bãi.Tất cả các biện pháp đó, nếu nhìn một cách trực diện thì đều làm gia tăng chi phí đầu tư dẫn đến giảm hiệu quả kinh tế nhưng hiệu quả về mặt xã hội thì lại tăng lên. Mặt khác, nếu phân tích dưới góc độ “hiệu ứng lan tỏa” từ việc sử dụng dịch vụ vận tải công cộng bằng xe buýt thì chi phí xã hội sẽ được tiết kiệm đáng kể (chi phí để giải quyết ô nhiễm môi trường, ùn tắc và tai nạn giao thông.do mức độ sử dụng phương tiện giao thông cá nhân quá lớn). Khi đó, nhà nước chỉ phải bỏ ra “một đồng” nhưng xã hội lại tiết kiệm được “nhiều đồng”.
Đây chính là “lợi ích kép” của vận tải hành khách bằng xe buýt đem lại mà chính quyền các đô thị cần phải tiếp tục theo đuổi. Điều đó cũng hoàn toàn phù hợp với mục tiêu xây dựng các đô thị ngày càng văn minh, hiện đại ở nước ta hiện nay. Như vậy, tính đặc thù của hiệu quả KT - XH trong vận tải hành khách Luan van 16 bằng xe buýt thể hiện ở chỗ hiệu quả về mặt xã hội được đặt ra cả trực tiếp trước mắt và lâu dài, hiệu quả về mặt kinh tế nhấn mạnh tính hiệu ứng lan tỏa của việc sử dụng loại hình dịch vụ này đối với toàn xã hội, không chỉ thể hiện ở doanh thu của doanh nghiệp hay thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp vận tải hành khách bằng xe buýt mà nó còn thể hiện ở cả những lợi ích mà dịch vụ vận tải này đem lại. Thứ hai, hiệu quả KT - XH trong vận tải hành khách bằng xe buýt được xác định cả về mặt định tính và định lượng đó là: Về mặt định tính: Thể hiện ở mục tiêu giải quyết tốt mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Mục tiêu hướng tới giải quyết tốt các vấn đề xã hội, là phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân một cách thuận tiện, giảm ùn tắc giao thông, chống ô nhiễm môi trường, giảm thiểu những tổn thất về kinh tế do nạn tắc đường gây ra. Ngược lại, mỗi kết quả đạt được về xã hội, đều nhằm mục đích góp phần tăng trưởng, phát triển kinh tế. Về mặt định lượng: Thể hiện ở kết quả thu được so với các chỉ tiêu về các nguồn lực đã chi phí, thông qua mối tương quan bằng các con số tương đối và tuyệt đối. Qua đó cho phép đánh giá mức độ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.