Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng hành vi sử dụng năng lượng tái tạo ở TPHCM

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng năng lượng tái tạo của người dân TPHCM. Phân tích xu hướng và giải pháp thúc đẩy năng lượng xanh.

Chuyên ngành

Kinh Tế, Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo Cáo Nghiên Cứu Khoa Học

2023

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của năng lượng tái tạo tại TPHCM

Năng lượng tái tạo là những nguồn năng lượng có thể tái sinh được từ thiên nhiên như mặt trời, gió, nước và sinh khối. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, việc áp dụng năng lượng tái tạo trong các hộ gia đình đang trở thành xu hướng quan trọng. Theo nghiên cứu từ Đại học Tài Chính – Marketing, hành vi sử dụng năng lượng tái tạo của người dân TP.HCM phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo giúp giảm phát thải CO2, bảo vệ môi trường và tiết kiệm chi phí năng lượng lâu dài. Bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đòi hỏi các gia đình phải có trách nhiệm xã hội trong việc lựa chọn các nguồn năng lượng sạch.

1.1. Định nghĩa năng lượng tái tạo

Năng lượng tái tạo bao gồm các dạng năng lượng như điện mặt trời, điện gió, thủy điện và năng lượng sinh khối. Những nguồn này có đặc điểm chính là có khả năng tái sinh và không cạn kiệt theo thời gian. Tại TP.HCM, điện mặt trời là loại năng lượng tái tạo phổ biến nhất được các hộ gia đình sử dụng hiện nay.

1.2. Vai trò trong phát triển bền vững

Năng lượng tái tạo đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vữngbảo vệ môi trường. Việc sử dụng năng lượng tái tạo giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, hạn chế phát thải khí nhà kính và cải thiện chất lượng không khí tại TP.HCM.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng năng lượng tái tạo

Nghiên cứu khoa học tại Đại học Tài Chính – Marketing đã xác định nhiều yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi sử dụng năng lượng tái tạo của các hộ gia đình TP.HCM. Nhận thức tính hữu dụng là yếu tố quan trọng nhất, liên quan đến việc người dân nhận thức được lợi ích của năng lượng tái tạo. Ngoài ra, chính sách nhà nước như các chương trình hỗ trợ, khuyến khích, và các ưu đãi tài chính cũng tác động đáng kể. Quan tâm về môi trườngý thức sinh thái của người dân đóng vai trò quyết định. Yếu tố chấp nhận chi trảkhả năng kinh tế cũng không thể bỏ qua khi quyết định sử dụng năng lượng tái tạo.

2.1. Nhận thức tính hữu dụng và dễ sử dụng

Nhận thức tính hữu dụng liên quan đến độ tin tưởng của người dân về hiệu quả năng lượng tái tạo trong đời sống. Tính dễ sử dụng bao gồm độ phức tạp của hệ thống, chi phí lắp đặt, và sự hỗ trợ kỹ thuật. Những hộ gia đình nhận thức rõ về lợi ích sẽ có ý định hành vi mạnh mẽ hơn.

2.2. Chính sách nhà nước và hỗ trợ tài chính

Chính sách nhà nước thông qua các căn cứ pháp lý khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo tại TP.HCM. Các chương trình hỗ trợ tài chính, giảm giá điện, và các ưu đãi thuế giúp giảm gánh nặng kinh tế cho người dân, tăng cường hành vi sử dụng năng lượng tái tạo.

2.3. Quan tâm môi trường và ảnh hưởng xã hội

Mối quan tâm về môi trường và ý thức bảo vệ sinh thái là động lực mạnh mẽ. Ảnh hưởng của xã hội, bao gồm những người thân, bạn bè, và cộng đồng, cũng tác động đến hành vi sử dụng năng lượng tái tạo của các gia đình tại TP.HCM.

III. Kết quả nghiên cứu thực tiễn tại TPHCM

Nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm sinh viên Đại học Tài Chính – Marketing đã thu thập dữ liệu từ hàng trăm hộ gia đình tại TP.HCM. Kết quả cho thấy rằng kiến thức về năng lượng tái tạo của người dân còn hạn chế, nhưng ý định sử dụng ngày càng tăng. Những hộ gia đình có thu nhập cao hơntrình độ học vấn cao có xu hướng sử dụng năng lượng tái tạo nhiều hơn. Thái độ tích cực đối với môi trường và chấp nhận chi trả cho các giải pháp xanh là những yếu tố quyết định. Tuy nhiên, thiếu hỗ trợ tài chính và chính sách khuyến khích còn là rào cản lớn đối với hành vi sử dụng năng lượng tái tạo của đa số gia đình.

3.1. Thông tin mẫu khảo sát và phương pháp thu thập

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát định lượng với mẫu gồm nhiều hộ gia đình phân bố khắp các quận huyện TP.HCM. Dữ liệu thu thập thông qua bảng hỏi và phân tích thống kê để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố và hành vi sử dụng năng lượng tái tạo.

3.2. Những phát hiện chính

Kết quả cho thấy ý định hành vi, quan tâm môi trường, tính dễ sử dụng, và chấp nhận chi trả là những yếu tố có tác động tích cực mạnh mẽ. Chính sách nhà nước cần được cải thiện để tăng cường hành vi sử dụng năng lượng tái tạo hiệu quả hơn.

IV. Hàm ý thực tiễn và khuyến nghị cho phát triển

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần có những hàm ý thực tiễn quản trị để khuyến khích hành vi sử dụng năng lượng tái tạo tại TP.HCM. Các bộ ngành cần thiết kế các chính sách hỗ trợ cụ thể như cấp bậc phí điện ưu đãi, hỗ trợ tài chính để lắp đặt hệ thống, và tăng cường tuyên truyền kiến thức về lợi ích của năng lượng tái tạo. Các doanh nghiệp cần cải thiện tính dễ sử dụng của sản phẩm và dịch vụ, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật tốt hơn. Cộng đồng và xã hội cần tạo không khí thuận lợi, nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường. Những biện pháp này sẽ thúc đẩy hành vi sử dụng năng lượng tái tạo một cách bền vững.

4.1. Khuyến nghị cho chính sách nhà nước

Nhà nước cần rà soát và hoàn thiện khung pháp lý khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo. Cấp bậc phí điện ưu đãi, giảm thuế nhập khẩu thiết bị, và hỗ trợ tài chính trực tiếp cho hộ gia đình sẽ tăng cường hành vi sử dụng năng lượng tái tạo hiệu quả.

4.2. Khuyến nghị cho doanh nghiệp và cộng đồng

Doanh nghiệp cần phát triển sản phẩm năng lượng tái tạotính dễ sử dụng cao và giá cả phù hợp. Tuyên truyền kiến thứcxây dựng cộng đồng sử dụng năng lượng tái tạo sẽ tạo ảnh hưởng xã hội tích cực.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 là giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các nội dung sau: lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và phần trình bày tổng quan về đề tài. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu về năng lượng tái tạo 2.1 Khái niệm về năng lượng tái tạo Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) định nghĩa năng lượng tái tạo là: “Năng lượng có nguồn gốc từ các quá trình tự nhiên được bổ sung với tốc độ nhanh hơn mức tiêu thụ”, và đề cập đến các ví dụ về năng lượng mặt trời, gió, địa nhiệt, thủy điện và sinh khối (IEA,2018b). Đối với Liên minh châu Âu bao gồm năng lượng gió, mặt trời, thủy điện và thủy triều, năng lượng địa nhiệt, nhiên liệu sinh học… Trong chính trị, kinh doanh và học thuật, năng lượng tái tạo thường được coi là giải pháp chính cho thách thức khí hậu toàn cầu.

(Atte Harjanne & Janne M. Korhonen, 2019) Theo John Twidell định nghĩa năng lượng tái tạo như sau: “năng lượng tái tạo là năng lượng thu được từ các dòng năng lượng liên tục và lặp đi lặp lại tự nhiên xảy ra trong môi trường địa phương”. Với nguồn năng lượng tái tạo thì nguồn năng lượng đã đi qua môi trường dưới dạng dòng chảy bất kể có thiết bị thu hoặc khai thác năng lượng này hay không. (Twidell, 2022) Các công ty được thành lập trong ngành năng lượng, nguồn trái đất và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo trình bày các định nghĩa chủ yếu được thông qua từ chương trình nghị sự hợp lệ trong môi trường pháp lý của khu vực.

Theo Liên minh Công nghiệp năng lượng tái tạo Texas (TREIA) được cơ quan lập pháp Texas thông qua, định nghĩa nêu trong nghiên cứu: "năng lượng tái tạo: Bất kỳ nguồn năng lượng nào được tái tạo tự nhiên trong thời gian ngắn và có nguồn gốc trực tiếp từ mặt trời (chẳng hạn như nhiệt, quang hóa và quang điện), gián tiếp từ mặt trời (như gió, thủy điện và năng lượng quang hợp được lưu trữ trong sinh khối), hoặc từ các chuyển động và cơ chế tự nhiên khác của môi trường (như năng lượng địa nhiệt và thủy triều). bao gồm các nguồn năng lượng có nguồn gốc từ nhiên liệu hóa thạch, chất thải từ các nguồn hóa thạch hoặc chất thải từ các nguồn vô cơ". Khả năng tái tạo, tức là khả năng tái tạo của tài nguyên trong một khoảng thời gian ngắn là một đặc điểm quan trọng của định nghĩa. Trong định nghĩa, các tài nguyên được chỉ định liên quan đến nguồn gốc của chúng.

(Radim Rybár & et al, 2015) Theo Cơ quan năng lượng tái tạo Úc (ARENA) sử dụng định nghĩa sau: “năng lượng tái tạo là năng lượng có thể thu được từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể được bổ sung liên tục” (Govenrment, n. Định nghĩa dựa trên đặc điểm liên tục được bổ sung liên quan đến nguồn gốc tự nhiên, tức là nó nên đề cập đến nguồn gốc tài nguyên chính. 11 Theo Cơ quan Năng lượng Tái tạo Quốc tế (IRENA) (The International Renewable Energy Agency, n.) đã có một định nghĩa theo luật định được 108 thành viên (107 quốc gia và Liên minh Châu Âu) phê chuẩn vào tháng 2 năm 2013: “năng lượng tái tạo bao gồm tất cả các dạng năng lượng được sản xuất từ các nguồn tái tạo trong một cách bền vững, bao gồm năng lượng sinh học, năng lượng địa nhiệt, thủy điện, năng lượng đại dương, năng lượng mặt trời và năng lượng gió.” Định nghĩa trên dựa trên đặc điểm của "cách sử dụng nguồn năng lượng bền vững” và đặt tên cho các nguồn riêng lẻ. Theo quan điểm ngày nay, có một định nghĩa thú vị về nguồn năng lượng tái tạo theo Cục Nguồn năng lượng phi truyền thống (Ấn Độ) (Negawa Publishers) từ năm 1982: Các nguồn năng lượng tái tạo là những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô tận và có thể được sử dụng để sản xuất lại năng lượng nhiều lần nữa.

Ví dụ như năng lượng mặt trời, gió, địa nhiệt, thủy triều, nước và năng lượng sinh học. Khoáng chất nguyên tử là nguồn năng lượng vô tận khi được sử dụng trong công nghệ lò phản ứng tái tạo nhanh. Ngoài các đặc điểm và ví dụ đặt tên thông thường, còn có một điều kiện công nghệ bổ sung hợp lệ đối với nhiên liệu hạt nhân, tức là mặc dù điều này xem xét một khía cạnh khác không liên quan đến nguồn gốc của các nguồn năng lượng chính, nhưng nó liên quan đến một cách sử dụng cụ thể. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về năng lượng tái tạo được trình bày trong các văn bản pháp luật khác nhau tại Việt Nam.

Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa này được trình bày bằng cách liệt kê các nguồn năng lượng tái tạo. Ví dụ, Thông tư số 32/2014/TT- BCT của Bộ Công Thương ban hành vào ngày 9 tháng 10 năm 2014, quy định về trình tự xây dựng và áp dụng giá tránh chi phí cũng như cung cấp một mô hình HĐMBĐ tiêu chuẩn cho các nhà máy thủy điện nhỏ, định nghĩa năng lượng tái tạo như sau: "năng lượng tái tạo là năng lượng được sản xuất từ các nhà máy thủy điện nhỏ, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt, năng lượng thủy triều, sinh khối, đốt cháy trực tiếp chất thải rắn, khí lấp đầy đất, khí từ nhà máy xử lý chất thải và khí sinh học" [4, Điều 2, Khoản 12]. Tương tự, theo Thông tư số 40/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 5 tháng 11 năm 2014, quy định về quy trình điều tiết hệ thống điện quốc gia, "năng lượng tái tạo bao gồm năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sinh khối và khí sinh học" [5, Điều 79, Khoản 2]. Dự thảo lần thứ năm Nghị định về khuyến khích và hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo do Bộ Công Thương chủ trì soạn thảo ngày 28 tháng 8 năm 2009 có các khái niệm sau: năng lượng tái tạo là một dạng năng lượng không hóa thạch và có khả năng tái tạo như: thủy điện nhỏ, năng lượng đại dương (năng lượng từ sóng biển, thủy triều 12 và dòng hải lưu), năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sinh khối, nhiên liệu sinh học.2 Đặc điểm của năng lượng tái tạo Năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng vô tận và tồn tại ở mọi nơi trên Trái Đất.

Các loại năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và địa nhiệt… không mất chi phí nhiên liệu (trừ năng lượng sinh khối). năng lượng sinh khối cũng có trữ lượng dồi dào và chi phí nhiên liệu thấp. So với các nguồn năng lượng truyền thống như than đá, dầu mỏ, khí đốt tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt ước tính chúng ta sẽ có thêm 50 đến 70 năm nữa để đáp ứng nhu cầu năng lượng của mình. Vì nguồn năng lượng tái tạo là vô tận nên bất kỳ quốc gia nào cũng có thể đảm bảo an ninh năng lượng trong tương lai.

Năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng sạch, có nguồn gốc từ thiên nhiên, thân thiện với môi trường, ít gây ô nhiễm. Nguồn năng lượng thu được từ năng lượng tái tạo không chứa nguyên tốc carbon và các nguyên tố khác nên khi sử dụng hoàn toàn không phát thải carbon. Trong các nguồn năng lượng tái tạo thì năng lượng sinh khối được tạo ra từ sinh khối và chất thải đều có nguồn gốc hữu cơ chưa carbon, nên khi sử dụng chúng tất yếu sẽ có thải CO2 vào khí quyển. Nhưng vì các vật liệu sinh học là thực vật nên trong quá trình tái tạo đã hấp thụ CO2 trong khí quyển thực hiện quá trình quang hợp để tạo ra những vật liệu hữu cơ chứa crrbon mới là những carbonhydrate, nên xét về tổng thể nguồn năng lượng từ vật liệu sinh học tạo ra CO2 khi sử dụng xem như cân bằng CO2 trong thiên nhiên, do đó không bổ sung thêm nguồn khí thải CO2 ra khí quyển.

Dù mỗi hình thức sản xuất năng lượng tái tạo đều ít nhiều gây ảnh hưởng đến môi trường nhưng trong số đó, năng lượng tái tạo là đối tượng tối ưu và tác động tích cực đến môi trường nhất so với các loại năng lượng khác. Năng lượng tái tạo có thể tạo nhiều triển vọng mới cho nông thôn, giúp người dân có thể tiếp cận mạng lưới điện hiện đại, nơi mà địa hình là khó khăn lớn nhất để có thể thiết lập mạng lưới điện. năng lượng tái tạo thay thế các nguồn nhiên liệu truyền thống trong bốn lĩnh vực: phát điện, nhiên liệu động cơ, đun nước nóng và hệ thống điện độc lập nông thôn. Một địa phương có thể tự sản xuất ra điện bằng cách lắp đặt các tấm pin mặt trời để hấp thu năng lượng từ đó tạo ra điện năng, nếu sử dụng đúng cách năng lượng dư thừa có thể được giữ tại bộ lưu trữ để dùng sau hoặc được truyền tải lên mạng lưới địa phương dể cung cấp cho những nơi khác làm tăng thêm thu nhập cho người dân.

năng lượng tái tạo có thể giúp nhiều nước đang phát triển giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng hóa thạch và sự căng thẳng tài chính gây ra bởi biến động giá dầu thế giới ngày nay do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Nga-Ukraine. năng lượng tái tạo còn tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới và việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh vững bền.3 Phân loại năng lượng tái tạo Theo Cơ quan Năng lượng Tái tạo Quốc tế (IRENA) (The International Renewable Energy Agency, n.) phân loại theo công nghệ sử dụng từng nguồn năng lượng tái tạo riêng biệt như sau: Đối với công nghệ phổ biến bao gồm năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng thủy điện. Năng lượng mặt trời - Ánh sáng mặt trời là một trong những nguồn năng lượng dồi dào và là nguồn miễn phí có sẵn trên hành tinh của chúng ta. Lượng năng lượng mặt trời chiếu tới bề mặt trái đất trong một giờ nhiều hơn tổng nhu cầu năng lượng của hành tinh trong cả năm.

Chính vì vậy, tiềm năng để mặt trời đáp ứng nhu cầu năng lượng của con người là rất lớn Mặc dù đây có thể được xem giống như một nguồn năng lượng tái tạo hoàn hảo nhưng lượng năng lượng mặt trời chúng ta có thể sử dụng thay đổi tùy theo thời gian trong ngày và mùa trong năm cũng như vị trí địa lý. năng lượng mặt trời có thể được sử dụng theo ba cách: chuyển hóa thành nhiệt năng; chuyển đổi nó thành điện năng (tấm pin năng lượng mặt trời); và quang hợp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ