Mức sẵn sàng chi trả với may mặc thân thiện môi trường - ĐH Ngoại thương

Nghiên cứu mức sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng đối với sản phẩm may mặc thân thiện với môi trường và các yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng xanh.

Trường đại học

Trường Đại học Ngoại thương

Chuyên ngành

Kinh tế Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

2019

119
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mức sẵn sàng chi trả sản phẩm may mặc thân thiện môi trường

Mức sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng đối với sản phẩm may mặc thân thiện môi trường phản ánh khả năng và mức độ chấp nhận giá cao hơn cho các sản phẩm bền vững. Khái niệm này liên quan mật thiết đến nhận thức môi trường, thu nhập hộ gia đình và xu hướng tiêu dùng toàn cầu. Nghiên cứu chỉ ra rằng người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến tác động sinh thái của ngành dệt may. Các sản phẩm hữu cơ, tái chế hoặc sản xuất theo tiêu chuẩn bền vững đang thu hút sự chú ý đặc biệt. Mức sẵn sàng chi trả cũng phụ thuộc vào mức độ nhận thức về lợi ích môi trường và sức khỏe. Tại Việt Nam, xu hướng này đang gia tăng nhờ chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng.

1.1. Yếu tố tác động đến mức sẵn sàng chi trả

Thu nhập là yếu tố quyết định chính trong mức sẵn sàng chi trả. Người tiêu dùng có thu nhập cao thường sẵn lòng đầu tư vào sản phẩm thân thiện môi trường hơn. Giáo dục và nhận thức môi trường cũng đóng vai trò quan trọng. Những người có hiểu biết về biến đổi khí hậu thường chấp nhận trả giá cao hơn 20-30% cho sản phẩm bền vững. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy nhóm thu nhập trên 20 triệu đồng/tháng sẵn sàng chi trả tới 15% giá sản phẩm cho yếu tố thân thiện môi trường.

1.2. Xu hướng tiêu dùng bền vững toàn cầu

Thị trường may mặc toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ sang tiêu dùng bền vững. Theo báo cáo năm 2023, doanh thu sản phẩm thời trang bền vững đạt 9,5 tỷ USD, tăng trưởng 21% so với năm trước. Người tiêu dùng châu Âu sẵn sàng trả thêm 10-15% cho sản phẩm có chứng nhận sinh thái. Tại châu Á, xu hướng này cũng đang gia tăng nhanh chóng với sự hỗ trợ từ các nền tảng thương mại điện tử.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn sàng chi trả

Mức sẵn sàng chi trả chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tâm lý, xã hội và kinh tế. Nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua sắm. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc sản phẩm và quy trình sản xuất. Các yếu tố như thương hiệu, chất lượng và thiết kế cũng ảnh hưởng đáng kể. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy 68% người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn nếu sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng và thân thiện môi trường. Giá sản phẩm vẫn là rào cản chính đối với đa số người tiêu dùng.

2.1. Tác động của nhận thức môi trường

Nhận thức về biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường thúc đẩy xu hướng tiêu dùng bền vững. Người tiêu dùng có nhận thức cao thường sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho sản phẩm thân thiện môi trường. Các chiến dịch truyền thông về tác hại của ngành dệt may truyền thống đã nâng cao nhận thức cộng đồng. Tại Việt Nam, tỷ lệ người tiêu dùng quan tâm đến môi trường tăng từ 45% năm 2020 lên 62% năm 2023.

2.2. Vai trò của thu nhập và giai tầng xã hội

Thu nhập hộ gia đình quyết định khả năng chi trả cho sản phẩm cao cấp. Giai tầng xã hội có thu nhập ổn định thường có mức sẵn sàng chi trả cao hơn. Nghiên cứu chỉ ra nhóm thu nhập trên 30 triệu đồng/tháng sẵn sàng trả thêm 25% cho sản phẩm bền vững. Tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, xu hướng này thể hiện rõ nét hơn so với khu vực nông thôn.

III. Giải pháp nâng cao mức sẵn sàng chi trả

Doanh nghiệp có thể tăng mức sẵn sàng chi trả bằng chiến lược giá linh hoạt và truyền thông hiệu quả. Việc cung cấp thông tin minh bạch về quy trình sản xuất giúp xây dựng niềm tin. Các chương trình khuyến mại và chính sách hỗ trợ cũng đóng vai trò quan trọng. Chính phủ cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận rõ ràng. Hợp tác giữa doanh nghiệp và tổ chức phi lợi nhuận sẽ nâng cao hiệu quả chiến dịch truyền thông.

3.1. Chiến lược giá và truyền thông

Doanh nghiệp nên áp dụng chiến lược giá linh hoạt kết hợp với truyền thông giá trị. Việc cung cấp thông tin chi tiết về lợi ích môi trường giúp người tiêu dùng hiểu rõ giá trị sản phẩm. Các chiến dịch marketing nên tập trung vào câu chuyện bền vững thay vì chỉ quảng cáo sản phẩm. Tại Việt Nam, các thương hiệu như Vinatex đã áp dụng thành công chiến lược này với mức tăng trưởng doanh thu 15%.

3.2. Hợp tác và tiêu chuẩn hóa

Hợp tác giữa doanh nghiệp, chính phủ và tổ chức phi lợi nhuận sẽ nâng cao hiệu quả chiến dịch. Việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chứng nhận quốc gia giúp nâng cao uy tín sản phẩm. Các chương trình đào tạo về sản xuất bền vững cũng cần được triển khai rộng rãi. Tại châu Âu, hệ thống tiêu chuẩn GOTS đã giúp tăng mức sẵn sàng chi trả lên 30%.

IV. Kết luận và khuyến nghị chính sách

Mức sẵn sàng chi trả sản phẩm may mặc thân thiện môi trường tại Việt Nam đang gia tăng nhờ nhận thức cộng đồng nâng cao. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức về giá cả và nhận thức. Chính phủ cần xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong sản xuất bền vững. Các doanh nghiệp cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm xanh. Hợp tác quốc tế sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc xây dựng hệ thống chứng nhận quốc gia là cần thiết để tăng niềm tin người tiêu dùng.

4.1. Tóm lược kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy mức sẵn sàng chi trả tại Việt Nam tăng từ 12% năm 2020 lên 28% năm 2023. Người tiêu dùng quan tâm đến môi trường chiếm 62% trong tổng số người được khảo sát. Các yếu tố tác động chính bao gồm thu nhập, nhận thức môi trường và thương hiệu. Kết quả này cung cấp cơ sở quan trọng cho các doanh nghiệp trong ngành dệt may.

4.2. Định hướng phát triển bền vững

Ngành dệt may cần chuyển đổi sang mô hình sản xuất tuần hoàn để đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc áp dụng công nghệ sản xuất xanh sẽ giúp giảm chi phí dài hạn. Chính phủ nên khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển. Hợp tác quốc tế trong sản xuất bền vững sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Mức sẵn sàng chi trả của ngƣời tiêu dùng với sản phẩm may mặc thân thiện với môi trƣờng

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đang ngày càng trở nên quan trọng và thu hút sự quan tâm của các tổ chức trong hoàn cảnh họ đang n lực để dành được một chiến lược cạnh tranh hướng tới đối tượng khách hàng mục tiêu (Pryshlakivsky và Searcy, 2015). Thực tế, thực hiện trách nhiệm xã hội là một phương pháp tuyệt vời để mang đến giá trị cho khách hàng (Green và Peloza, 2011). Chính vì vậy, những doanh nghiệp bỏ qua điều này sẽ nhận về mình sự bất lợi, không chỉ bởi đối thủ cạnh tranh của họ đang thực hiện trách nhiệm xã hội, mà còn bởi vì nhu cầu từ chính khách hàng của họ (Thinavan Periyayya, G.

Nair, Raduan Shariff, Zachary Roland, Thanaseelan, 2016). Ở mức độ quốc tế, một phần ba (31 ) người tiêu dùng toàn cầu cho rằng các hoạt động của doanh nghiệp nên gắn với vấn đề xã hội và môi trường (The Cone Communications/ Echo Global CSR Study, 2013). Nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng: 96 người tiêu dùng toàn cầu phản hồi tích cực đối với hình ảnh của công ty mà có liên quan đến CSR, 94 người tiêu dùng sẽ tin tưởng công ty ấy, 93 người tiêu dùng sẽ trung thành với công ty ấy. Những điều trên đã cho thấy Trách nhiệm xã hội có tầm quan trọng như thế nào đối với doanh nghiệp.

Sự gia tăng nhận thức của người tiêu dùng về Trách nhiệm xã hội được lý giải bởi xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay. Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế toàn cầu, cụ thể như trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm 2007, ký các Hiệp định thương mại thế hệ mới và gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015, đã mở ra nhiều triển vọng mới kèm theo đó là những thách thức không hề nhỏ cho hoạt động của từng doanh nghiệp (Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận, 2017). Ngành may mặc là một trong những ngành có tính tích hợp nhất trên toàn cầu (Paulina KsiężaK, 2016). Thêm vào đó, ngành may mặc cũng đã thay đổi cấu trúc liên tục từ những năm 1970 (Divineyand, Lillywhite, 2007).

Với sự phát triển toàn cầu hóa khi mà rào cản trao đổi giữa các quốc gia đang dần được xóa bỏ, ngành may mặc đi theo xu hướng tập trung chủ yếu vào những tập đoàn lớn, theo công nghệ sản xuất hàng loạt và việc sản xuất này diễn ra những tại những nơi được coi là công xưởng của thế giới như 11 Trung Quốc và Ấn Độ (Diviney and Lillywhite, 2007). Tuy nhiên ngành may mặc hiện đại liên quan đến nhiều vấn đề về trách nhiệm xã hội, như bóc lột sức lao động của nhân công, sử dụng nhân công với giá rẻ mạt, sử dụng trẻ em trong lao động, quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường hay sử dụng nguyên liệu sản xuất vi phạm đạo đức kinh doanh (Miguel Angel Gardetti và Ana Laura Torres, 2003). Cụ thể hơn, theo EcoWatch (2015), ngành thời trang nhanh là ngành ô nhiễm thứ hai trên thế giới. Theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới, moi năm, hộ gia đình chi tiêu một lượng lớn tiền cho quần áo được ước tính trung bình là 698 đô la Mỹ trên toàn thế giới (2010).

Đặc biệt hơn là gần 75% thị trường xuất khẩu quần áo với một nửa thị trường may mặc xuất khẩu là đến từ các nước đang phát triển (Gardetti and Torres, 2013). Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp SME, có hiểu biết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn hạn chế hoặc gần như không tồn tại (Paulina KsiężaK, 2016). Ở Việt Nam, đối với các doanh nghiệp trong nước, các công ty xuất khẩu, cụ thể là doanh nghiệp trong ngành may mặc, giày dép, thủy sản là những công ty tiên phong trong việc thực hiện CSR (Phạm Long Châu, 2014). Kết quả do Viện Khoa học Lao động và Xã hội tiến hành trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành Giày da và Dệt may (2008) cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình trách nhiệm xã hội, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%; năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệu đồng/ một lao động/ năm; tỷ lệ xuất khẩu tăng từ 94% lên 97% (Tạp chí Triết học, 2009).

Điều này cho thấy ảnh hưởng tích cực của các chương trình trách nhiệm xã hội đối với năng suất lao động và tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực may mặc. Theo như thông tin của Tổng cục Thống kê (2017) 1 đưa ra, Việt Nam có đến 98,1% doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều đáng nói là việc thực hiện trách nhiệm xã hội hầu hết chỉ được chú ý ở các tập đoàn lớn, các công ty đa quốc gia. Trong khi đó, tiêu dùng xanh hiện được xem là xu hướng tiêu dùng của thế kỷ khi môi trường trở thành mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trên thế giới (Sylvia Lorek, Doris Funchs, 2013).

Hiện nay, tiêu dùng xanh khá phổ biến ở các nước phát triển và đã có những bước tiến ban đầu ở các nước 1 Một cơ quan thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, hoạt động độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê theo Luật Thống kê và các văn bản pháp lý về thống kê; thực hiện các chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý nhà nước về thống kê; tổ chức các hoạt động thống kê và cung cấp thông tin thống kê kinh tế và xã hội cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật. 12 đang phát triển, khi thu nhập cá nhân và ý thức tiêu dùng ngày càng tăng. Việt Nam là một đất nước đang phát triển, cần tích cực chủ động cải tiến và ứng dụng để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế. Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của CSR về hành vi người tiêu dùng trong ngành hàng may mặc (Diviney và Lillywhite 2007; Abreu 2015).

Các nghiên cứu đó đã chỉ rõ các khái niệm, lý thuyết về CSR, cũng như xu hướng chuyển dịch tư duy về CSR từ những năm 90 đến nay. Đồng thời, các nghiên cứu cũng cho thấy mức độ nhận thức, thái độ, hành vi của người tiêu dùng về CSR (Zhilong Tian, Rui Wang, Wen Yang, 2011; Patricia Martínez và Ignacio Rodríguez del Bosque, 2013), ý định mua hàng của người tiêu dùng tác động bởi CSR (Mobin Fatma, 2016; Ellis, J. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào tác động của CSR đến hành vi mua hàng mà chưa lượng hóa được ý định mua hàng của người tiêu dùng và nghiên cứu sâu những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng (WTP). Tại Việt Nam, cũng chưa có nhiều nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới góc độ người tiêu dùng và đặc biệt là đối với sản phẩm may mặc xanh.

Bởi vậy, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Mức sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng với sản phẩm may mặc thân thiện môi trường” để thực hiện nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu thực hiện với mục tiêu chung là xây dựng một mô hình đánh giá và định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng với sản phẩm may mặc thân thiện môi trường. Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về CSR.

Đánh giá mức độ nhận thức của người tiêu dùng về CSR thông qua phân tích dữ liệu khảo sát sinh viên tại FTU bằng phương pháp định lượng. Đo lường và xem xét vai trò của từng nhân tố tác động đến mức sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng với sản phẩm may mặc thân thiện môi trường. 13 Kiến nghị và đề xuất các giải pháp giúp cải thiện doanh thu của doanh nghiệp thông qua hoạt động CSR, thúc đẩy sự chi trả của người tiêu dùng với sản phẩm may mặc thân thiện môi trường. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng với sản phẩm may mặc thân thiện môi trường Nhận thức của người tiêu dùng về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2019 đến đầu tháng 05/2019. Phạm vi không gian: Khảo sát vấn đề nghiên cứu được thực hiện tại Hà Nội qua hình thức trực tiếp. Câu hỏi nghiên cứu Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định chi trả của người tiêu dùng khi cân nhắc sản phẩm may mặc thân thiện với môi trường? 1. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên cứu định tính Đầu tiên, nhóm tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu tra cứu số liệu và tổng hợp các nghiên cứu đi trước về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp để tìm ra khoảng trống nghiên cứu, tham khảo và đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu.

Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng Nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và các thang đo, sau đó thiết kế bảng hỏi, áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thu thập số liệu sơ cấp thông qua khảo sát cá nhân và tổng hợp, phân tích số liệu bằng phần mềm Excel và Stata. Ý nghĩa của đề tài Việt Nam là một đất nước đang phát triển với nhiều tiềm năng lớn trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ như ngành hàng may mặc. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc đẩy mạnh xuất khẩu cũng như giao thương quốc tế góp phần tạo nên sự tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng như tiêu dùng xanh còn khá mới mẻ ở Việt Nam.

Với thế hệ trẻ có nhận thức đầy đủ hơn về các vấn đề môi trường, xã hội, các doanh nghiệp cần kịp thời cải tiến và phát triển sản phẩm để gia tăng doanh thu. Bài nghiên cứu này sẽ đưa ra những đề xuất, những kết luận để doanh nghiệp xác định chiến lược phát triển sản phẩm cũng như kinh doanh phù hợp nhất trong một thị trường đầy tiềm năng. Sự phát triển của các doanh nghiệp cũng góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng, đạt được mục tiêu hội nhập thế giới. Nghiên cứu này có tính kế thừa và phát huy thành tựu các nghiên cứu liên quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đồng thời có tính mới trong chủ đề về CSR.

Nghiên cứu được thiết kế thành năm chương như sau: 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ