chương 1 là căn cứ dé tiếp cận tình hình một số CSHT xã hội trên một địa bàn cụ thé ở chương 2. PHAN TÍCH TINH HÌNH MỘT SO CƠ SỞ HA TANG XÃ HOI TREN DIA BAN HUYEN THUONG XUAN, TINH THANH HOA 2. Tổng quan về tình hình phát triển KT-XH huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa Về Kinh tế: Là địa bàn miền núi còn nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp. Cơ cấu kinh tế toàn vùng chuyên dịch theo hướng phù hợp với tình hình chung của cơ cấu kinh tế toàn tỉnh, thậm chí cả nước, nhưng vẫn đang ở mức khá thấp so với tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của toàn tỉnh.
Năm 2020, kinh tế duy tri mức tăng trưởng khá đạt 15,5%; cơ cau các ngành kinh tế đang chuyên dich theo hướng tích cực: Nông- Lâm nghiệp 46,6%; CN-XDCB 13,7%, Thương mại và dịch vụ 39,7%. Thu nhập bình quân đầu người 6,8 triệu đồng/người/năm. Về Văn hóa xã hội: phố cập giáo dục tiêu học đúng độ tuổi, trẻ em đến trường có khoảng 98% (2020); đã có 16 trường chuẩn Quốc gia, nhiều trung tâm học tập cộng đồng hoạt động khá tốt; công tác dạy nghề được chú trọng, từng bước bổ sung day đủ về nguồn lực; có đến 126 làng có nếp sống văn hóa, trong đó 88 làng được chứng nhận đơn vị văn hóa cấp huyện; hơn 70% số hộ gia đình là gia đình văn hóa. Kế hoạch giảm nghèo được tiến hành có hiệu quả ( tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 62,15% năm 2011 xuống còn 39% năm 2020).
Khái quát chung về CSHT trên địa bàn huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa 2. Hạ tang kĩ thuật Những năm qua, huyện Thường Xuân đã liên tục thực hiện một số chương trình, dự án trọng điểm như 135, 134, 159, WB, 30a. chủ yếu đầu tư vào nước sạch, thủy lợi, giao thông. Tại hồ Cửa Đạt và các vùng phụ cận đã có trạm phát sóng di động: hệ thống giao thông vận hành rất tốt trong những năm gần đây, xây mới nhiều tuyên đường của xã.
Đường cao tốc có độ dài 230 km, trong đó đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua địa bàn toàn huyện, tổng chiều dài gần 13 km; Quốc lộ 47 (trước đây là Tỉnh lộ 507/519) đi Cửa khẩu Khẹo - Tà Lấu giữa huyện Thường Xuân, tinh Thanh Hóa và huyện Sầm To, tinh Hủa Phan (Lào) dài 70km; tuyến Bái Thượng - Cửa Đạt dài 12 km, đường giao thông giữa các xã là 35 km, tuy nhiên đường ở các xã, bản thì còn kém phát triển, đi lại hạn chế trong mùa lũ. Hơn 70 công trình thủy lợi, trong đó có 5 trạm bơm, 24 hồ chứa, 23 đập đá xây, 04 đập đá xếp. Lưới điện gồm 97 trạm biến áp (85 trạm hạ thế, 12 trạm trung thế) và 158 km đường dây cáp cao thế, 98 km đường dây, hiện 100% số xã, 19 thị trấn có điện lưới quốc gia. Hiện có 4 nhà máy thủy điện đang vận hành, gồm Nhà máy Thủy điện Cửa Dat, Xuân Minh, Bái Thượng, Dốc Cay.
Hang năm, các công trình thủy điện đóng góp hàng trăm triệu kW/h điện vào nguôồn điện lưới quốc gia, cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho vùng hạ du. Hiện nay, Huyện chủ yêu dùng nước ngầm mạch sâu để cấp nước cho các xã. Còn nguồn nước ngầm mạch trung và mạch nông chỉ sử dụng cấp cho một cụm nhà, khóm nhà, khu dân cư nhỏ hay từng gia đình.Nguồn nước mặt trên địa bàn huyện Thường Xuân tương đối phong phú, do số lượng ao hỗ nhiều, đặc biệt là từ con sông Chu. Tuy nhiên, do nước thải sinh hoạt và chăn nuôi thải ra khiến nước mặt khu vực này có dấu hiệu ô nhiễm.
Đồng thời, nhiều gia đình sử dụng phân gia cầm làm thức ăn cho cá, lượng phân thải ra quá nhiều cũng đã gây ô nhiễm ao hồ của xã. Hệ thống thoát nước tại huyện Thường Xuân hiện nay là hệ thống thoát nước chung. Tại các trục đường chính như: Lê Lai, Lê Lợi, Xuân Mỹ, Linh Lan. nước thải thoát cùng hệ thống thoát nước mưa.
Đa số người dân đều sử dụng ham tự hoại và xí hợp vệ sinh (chiếm khoảng 90%), nước sau khi xử lý sơ bộ tự thấm xuống đất ra các khu vực trũng, gây nguy cơ 6 nhiễm nước mặt và nước ngầm. Bệnh viện đa khoa huyện hiện chưa có trạm xử lý nước thải, nước thải xử lý sơ bộ bằng bề tự hoại, sau đó đấu vào hệ thống thoát nước chung. Hạ tang xã hội Hạ tầng văn hóa: Đến năm 2020, hệ thống hạ tầng văn hóa của huyện tương đối hoàn thiện với 101/124 thôn, bản, tô dân phố có NVH; 16/16 xã có TTVH - TT; 1 TTVH - TT cap huyện; các trang thiết bị, sân chơi, bãi tập đa số đáp ứng được nhu cầu của người dân. Hiện nay, toàn huyện có trên 72% gia đình văn hóa; 85/124 thôn, bản, tổ dân phố được công nhận văn hóa.
Biểu đồ thực trạng một số hạ tang văn hóa huyện Thường Xuân năm 2020 Đơn vị: 100 80 60 40 20 0 TTVH-TT xã,thị Số NVH, khu thể Cơ quan, đơn trấn thao thôn vị, doanh nghiệp mĐạt Chưa đạt 20 (Nguồn: Chỉ cục thống kê UBND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa) Tuy vậy, vẫn còn tồn tại nhiều NVH đã xây dựng được một thời gian dải nên quy mô nhỏ, xuống cấp khá nhiều; nhiều NVH chưa có địa điểm vui chơi cho trẻ em và người cao tuổi; một số thiết chế văn hóa vẫn chỉ được khai thác, sử dụng ở mức hội họp, chưa tô chức được nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thé thao, nhất là ở các xã khó khăn. Hạ tang TDTT: Hai hạng mục quan trọng phải có trong kết cấu hạ tầng cho hoạt động TDTT của mỗi xã đó là nhà thi đấu và sân vận động. Qua khảo sát, toàn huyện hiện có 1 sân vận động kích thước 80x90, 12 sân chơi, bãi tập nam ở các xã, thị tran. Ngoài ra, có 14 sân cầu lông và 4 bàn bóng bàn với điều kiện, chất lượng chưa cao, chưa phục vụ được nhu cầu luyện tập TDTT của người dân.
Tuy nhiên, các công trình CSVC cho hoạt động TDTT chủ yếu là các sân tập chưa đạt chuẩn, kích thước tại các khu dân cư chủ yếu dành cho các môn bóng chuyền, một số môn thể thao dân tộc. Ngoài ra, các sân cầu lông, bàn bóng bàn chủ yêu là ở các cơ quan và trường học. Huyện đã có quy hoạch quỹ đất cho sân vận động huyện nhưng chưa có nguồn kinh phí để đầu tư xây dựng, công tác xã hội hóa còn gặp nhiều khó khăn. Do vậy, bên cạnh việc dành quỹ đất, ngân sách từ nhà nước, rất cần thúc đây công tác xã hội hóa, huy động các nguồn lực dé xây dựng công trình TDTT, tạo điều kiện, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực TDTT, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về luyện tập TDTT của người dân.
Hạ tang hành chính: 100% các công trình trụ sở cơ quan trực thuộc huyện đều được xây dựng kiên cố với diện tích từ 0,2 đến 2Ha. Các trung tâm hành chính của Huyện đang tiến hành tu sửa, xây mới như UBND huyện, công sở UBND các xã, trụ sở Tòa án,.đự kiến sẽ xây xong trong vòng nhiều nhất 01 năm kê từ thời điểm khởi công. Thực trạng một số CSHT xã hội trên địa bàn huyện Thường Xuan, tinh Thanh Hóa 2. Hạ tầng giáo dục mầm non, tiểu học 2.
Cấp mam non Bảng 2. Bảng thực trạng CSVC các trường mầm non trên địa bàn huyện Thường Xuân năm học 2020-2021 Diện tích Nhà vệ SA ek STT Tên trường đấtbình A | So véiqu A y sinh s. | Nhave | Thiếu sinhhọc | phòng quan chuan giao sinh. hoc (m2/em) viên ki 1 Thi Tran 15,3 Dat 14 26 6 21 2 Xuân Cam 36,75 Dat 1 11 8 3 Bát Mọt 12,12 Đạt 6 12 - 4 Yên Nhân 13,65 Đạt 1 12 8 5 Xuân Lẹ 15,56 Đạt 0 8 - 6 Van Xuan 18,52 Dat 8 18 - 7 Luong Son 14,48 Dat 2 19 10 8 Xuân Cao 14,37 Dat 1 7 10 9 Luận Thành 10,63 Chưa Đạt 2 22 8 10 | Luận Khê 14,73 Đạt 2 32 4 II | Xuân Thắng 15,94 Đạt 2 10 - 12 | Xuân Lộc 36,18 Đạt 2 20 - 13__| Xuân Dương 21,89 Đạt 3 13 4 14 | Tho Thanh 8,72 Chưa Đạt 1 22 6 15_ | Ngọc Phụng 10,16 Chưa Đạt 2 24 6 16 | Xuân Chỉnh 19,43 Đạt 0 5 - 17 | Tân Thanh 17,2 Đạt 2 22 - Tong 49 283 70 (Nguôn: Tinh toán cua tác giả từ Biểu thực trạng CSVC khối các trường học huyện Thường Xuân năm hoc 2020-2021) Về Diện tích đất bình quân: Căn cứ theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng (QCVN0I: 2019/BXD) quy định: “Diện tích tối thiểu đối với các trường mam non là 12m”/cháu.” Như vậy có 14/17 trường, chiếm 82,35% trường mầm non đạt chỉ tiêu sử dụng đất tối thiểu theo quy chuẩn; 3/17 trường chiếm 17,65% tuy nằm vùng trung tâm nhưng diện tích đất sử dụng lại chưa đạt chuẩn, tạo điều kiện cho việc tổ chức học tập có chất lượng, xây dựng nhà trường có khuôn viên sạch sẽ.
Xuân Cam và Xuân Lộc là trường mầm non đạt diện tích đất bình quân cao nhất, gần gấp 3 lần so với các trường ở xã Bát Mọt, Yên Nhân, Luận Khê mặc dù tổng diện tích chung ở 3 xã là Bát Mọt: 20573,05ha; Yên Nhân: 18869,94; Luận Khê: 5575,59ha lớn hơn gấp nhiều lần so với Thị tran (4952,7ha) và xã Xuân Lộc (3269,89ha). Các trường mầm non ở cụm xã trung tâm (Thọ Thanh, Ngọc Phụng, Lương Sơn, Xuân Cao) thì chỉ tiêu Diện tích đất bình quân đều thấp hơn so với các trường ở cụm xã phía Nam và phía Bắc (Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Chinh) của huyện. Phan vì diện tích dat nhà trường lớn hơn gap nhiều lần, phan vì số trẻ em trong độ tuôi đi học ở các xã này thấp hơn. Chính vi vậy, dé nghị cấp trên cần xem xét điều chỉnh quy hoạch, bổ sung quỹ đất cho 3 cơ sở trường mầm non xã Thọ Thanh, Luận Thành và Ngọc Phụng.
Cơ sở vật chất khác: Có 15/17 trường mầm non đã xây dựng nhà vệ sinh cho cả giáo viên và học sinh, 2 trường còn lại là Xuân Lẹ và Xuân Chinh cần xin bô sung ngân sách đê xây dựng nhà vệ sinh phục vụ cho cán bộ giáo viên của 22 trường, đảm bảo công tác sinh hoạt và dạy học của họ, cũng như xây thêm nhà vệ sinh cho các em bởi số lượng vẫn chưa đảm bảo (tông chỉ 4-5 nhà vệ sinh).