Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và quan trọng bậc nhất với mỗi quốc gia; là cơ sở không gian của mọi quá trình sản xuất, là tài liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp,̣ là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đất đai là nguồn tài nguyên có giới haṇ về số lượng, là tài liệu sản xuất không gì có thể thay thế được đặc biệt là trong nông nghiệp. Ngày nay quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ nhanh, cùng với sức ép về dân số, nhu cầu về đất ở, đất xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ngày càng tăng, nhiều diện tích đất nông nghiệp đã phải chuyển sang mục đích phi nông nghiệp. Trước tình hình đó, một vấn đề đặt ra là phải có biện pháp sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý nhằm đảm bảo tính tiết kiệm hiệu quả và bền vững đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển trong tương lai.
Biện pháp thích hợp nhất là quản lý và sử dụng đất một cách có quy hoạch, kế hoạch. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có vai trò và chức năng rất quan trọng, nó tạo ra những điều kiện lãnh thổ cần thiết để tổ chức sử dụng đất có hiệu quả cao. Điều 54 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luâṭ.
Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ”. Một trong những quy định của Pháp luật về quản lý, sử dụng đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Để có được phương án quy hoạch sử dụng đất phù 2 hợp với thực tế, đảm bảo tính khả thi thì việc phân tích, đánh giá được đầy đủ kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn thời kỳ trước là một trong những nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu của các nhà quy hoạch, các nhà quản lý là phải tìm ra những mặt được, những tồn tại và các nguyên nhân, làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nên em chọn đề tài “Đánh giá quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015 trên địa bàn phường Hà Trung thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài thực tập tốt nghiệp của mình. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát của đề tài Tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất của phường Hà Trung - TP.
Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2015 tìm ra những yếu tố tích cực, những hạn chế bất cập trong việc tổ chức thực hiện phương án quy hoạch. Mục tiêu cụ thể của đề tài Đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại trong quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng đất của phường Hà Trung giai đoạn 2011- 2015. Đề xuất giải pháp để thực hiện có hiệu quả phương án quy hoạch sử dụng đất trong tương lai, đảm bảo hài hòa giữa các mục đích ngắn hạn và dài hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất của phường Hà Trung, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của thành phố, của tỉnh. Yêu cầu của đề tài - Các số liệu điều tra, thu thập chính xác, khách quan.
Các tiêu chí đánh giá đảm bảo tính thống nhất và hệ thống. - Bám sát báo cáo quy hoạch của phường Hà Trung với tình hình thực tế. - Đánh giá kết quả đạt được và chưa đạt được, những tồn tại trong phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015 3 1. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Bổ xung những kiến thức đã học trên lớp, học hỏi, tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm thực tế, hiểu rõ tầm quan trọng của việc thực hiện đánh giá công tác quy hoạch.
Biết cách thực hiện một đề tài khoa học và cách hoàn thành một khóa luận tốt nghiệp. Giúp sinh viên gắn lý thuyết với thực tiễn để củng cố thêm cho bài học trên lớp. * Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn phường, xác định những tồn tại chủ yếu trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất, nguyên nhân và những giải pháp khắc phục. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở pháp lý của đề tài Quan điểm chung của Đảng và Nhà nước ta về đất đai đó là: Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là nguồn lực và là thành quả tạo lập, bảo vệ với bao xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam. Trong quá trình phát triển của đất nước, đất đai đóng vai trò rất quan trọng và hết sức to lớn về chính trị, kinh tế, xã hội. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đẩy mạnh lập quy hoạch sử dụng đất các cấp gắn liền với quy hoạch tông thể phát triển kinh tế - xã hội nhằm sử dụng hiệu quả, phát huy tối đa tiềm năng đất đai phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, giữ vững ôn định chính trị, kinh tế - xã hội. Sự quan tâm của Đảng thể hiện ngay trong hệ thống các văn bản pháp luật như: Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật và các nghị định hướng dẫn thi hành luật.
Những văn bản này là cơ sở pháp lý cho các cấp thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. - Công văn 429/TCQLĐĐ-CQH ĐĐ ngày 16 tháng 4 năm 2012 về việc hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Luật Đất đai 1993, Nxb Chính trị Hà Nội.[4] - Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, Nxb Chính trị, Hà Nội.[5] 5 - Luật sửa, đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, Nxb Chính trị Hà Nội.[6] - Luật Đất đai năm 2003 Nxb Chính trị Hà Nội. [7] - Nghị định số 181/2004/ NĐ - CP [8] của chính phủ về hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003.
- Nghị định 69/2009/NĐ-CP [9] ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính Phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. - Thông tư 30/2004/TT - BTNMT [18] của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Thông tư 19/2009/TT-BTNMT [17] ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ tài nguyên môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT [16] ngày 15/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
- Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT [14] ngày 30/06/2005 Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Do vậy, công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thống nhất trong cả nước mà vẫn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng thì các cấp lãnh đạo cần phải căn cứ vào các quy định của Nhà nước về thực hiện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Điều này đã khẳng định tính pháp chế của nhà nước ta trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Cơ sở lý luận của đề tài 2.
Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất Về mặt thuật ngữ khoa học, “Quy hoạch” là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức. đất đai là một thành phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất.) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa tính.) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Vì vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng thành phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định.[3] Quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội, nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất. Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai.
Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng quản lý sử dụng đất.[3] Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp quản lý, kĩ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường. Bản chất của quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kĩ thuật, pháp chế [3]. Trong đó cần hiểu: 7 - Kinh tế: thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai. - Kĩ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý dữ liệu, bố trí sử dụng đất.
- Pháp chế: là việc xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng quản lý đất đúng pháp luật.