Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại (mã số: 62 22 54 05) của tác giả Vũ Quý Thụ, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Khánh và GS.NGND Đinh Xuân Lâm, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006. Đề tài tập trung nghiên cứu: "Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX (1885 - 1895)".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thanh Hóa là địa bàn có vị trí chiến lược trọng yếu về quân sự, kinh tế và chính trị trong lịch sử Việt Nam, đồng thời là vùng đất giàu truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm. Cuối thế kỷ XIX, sau khi thực dân Pháp áp đặt nền bảo hộ thông qua các hiệp ước Hác-măng (1883) và Pa-tơ-nốt (1884), phong trào Cần Vương tại Thanh Hóa đã bùng nổ mạnh mẽ dưới sự khởi xướng và lãnh đạo của các văn thân, sĩ phu yêu nước.

Trước khi luận án được thực hiện, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã ghi nhận những sự kiện, nhân vật tiêu biểu như khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Cam Bá Thước, Hà Văn Mao... Tuy nhiên, các tài liệu xuất bản trước đây chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc khởi nghĩa đơn lẻ hoặc khảo sát trong phạm vi không gian hẹp (khu vực miền biển, đồng bằng hoặc vùng núi). Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có một công trình nào tái hiện toàn diện, có hệ thống quá trình hình thành, phát triển, mối quan hệ liên kết liên vùng và tổng kết sâu sắc về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân thất bại cùng bài học kinh nghiệm của toàn bộ phong trào yêu nước tại Thanh Hóa trong suốt giai đoạn 10 năm (1885 - 1895).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về quá trình hình thành và phát triển các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Thanh Hóa trong khoảng 10 năm (từ 1885 đến 1895).
  2. Làm rõ những hoạt động tiêu biểu của nghĩa quân ở các căn cứ và các cuộc khởi nghĩa; xác định mối quan hệ giữa phong trào của nhân dân Thanh Hóa với phong trào các tỉnh khác.
  3. Đưa ra nhận xét, đánh giá về đặc điểm, tính chất, vị trí, nguyên nhân thất bại và kinh nghiệm của phong trào.
  4. Đề xuất giải pháp bảo tồn hiện trạng, tôn tạo các di tích liên quan đến các yếu nhân và phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các phong trào nổi dậy chống thực dân Pháp của nhân dân Thanh Hóa theo danh nghĩa Cần Vương từ khi bùng nổ đến khi bị dập tắt (1885 - 1895).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong mối quan hệ gắn kết với phong trào yêu nước chống Pháp ở các địa phương lân cận và trên phạm vi cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1885 - 1895, được chia thành hai thời kỳ vận động:
    • Thời kỳ thứ nhất (1885 - đầu năm 1887): Quá trình bùng nổ các cuộc nổi dậy từ tự phát ở các địa phương tiến lên xây dựng căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng và căn cứ phòng ngự Ba Đình.
    • Thời kỳ thứ hai (đầu năm 1887 - nửa đầu năm 1895): Trọng tâm là cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh và phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp tại vùng đồng bào miền Tây Thanh Hóa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các nhóm tài liệu và công trình nghiên cứu lịch sử theo từng giai đoạn và quan điểm tiếp cận:

Các hướng nghiên cứu trước đây

  • Tài liệu của chính quyền thực dân và giới quân sự Pháp: Các quan chức và tướng lĩnh Pháp thừa nhận vị trí chiến lược của Thanh Hóa. Paul Bert (Tổng trú sứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ) vào tháng 10-1886 đã ghi nhận tầm quan trọng chính trị và tổ chức của phong trào tại Thanh Hóa; Daufés tổng kết cuộc công hãm Ba Đình là chiến sự quan trọng nhất trong chiến dịch Thu - Đông 1886 - 1887. Báo cáo của Khám sai tuyên phủ sứ Trần Lục phản ánh tình hình hoạt động của nghĩa quân tại Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương. Các ấn phẩm của Masson (Souvenirs de L' Annam et du Tonkin), F. Bernard (L'Indochine: erreurs et dangers), Galliéni (Trois colonnes au Tonkin 1894-1895), tài liệu Histoire militaire de l'Indochine de 1664 à nos jours ghi lại các hoạt động quân sự và sự đối phó của Pháp. Luận án tiến sĩ của Charles Fourniau (1983) và Nina S. Adams (1978, Đại học Yale) cung cấp tư liệu lưu trữ từ Pháp và góc nhìn khách quan về tương quan hai phía. Công trình của Yoshiharu Tsuboi (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 - 1885) cung cấp thêm nguồn sử liệu về bối cảnh triều Nguyễn.
  • Sử liệu triều Nguyễn và tài liệu trước năm 1945: Bộ Đại Nam thực lục chính biên có 11 lần ghi chép về phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa; sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chỉ ghi chép sơ lược về Hà Văn Mao; tác phẩm Ba Đình truyện ký của Phan Trần Chúc mang nặng yếu tố hư cấu văn học, độ tin cậy khoa học còn hạn chế. Các ấn phẩm tại miền Nam trước năm 1975 như cuốn Việt Nam quân sử của Phạm Văn Sơn có khai thác tư liệu nhưng chịu ảnh hưởng bởi quan điểm chính trị đương thời.
  • Sử học Mác-xít và các công trình sau năm 1954: Các chuyên khảo của Trần Huy Liệu (Dự thảo lịch sử cận đại Việt Nam, Lịch sử 80 năm chống Pháp), Trần Văn Giàu (Chống xâm lăng, Lịch sử cận đại Việt Nam), Hoàng Văn Lân, Ngô Thị Chính, nhóm tác giả do Vũ Huy Phúc chủ biên (Lịch sử Việt Nam 1858 - 1896)... đã phác họa bối cảnh và diễn biến các cuộc khởi nghĩa Cần Vương.
  • Các nghiên cứu chuyên sâu, địa phương và hội thảo khoa học: Công trình Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh (1995) của Đinh Xuân Lâm và Trịnh Nhu; các bài viết của Trịnh Nhu, Phan Trọng Báu trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lịch sử quân sự; các bộ địa chí (Địa chí Thanh Hóa, Địa chí Nông Cống); luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Văn Tường, Vũ Thế Truyền; cùng kỷ yếu các cuộc hội thảo khoa học: 100 năm khởi nghĩa Ba Đình (1986/1992), Hội thảo danh nhân Cam Bá Thước (1995), Hội thảo danh nhân Hà Văn Mao (2002).
Nhóm công trình / Tài liệu Tác giả / Cơ quan tiêu biểu Nội dung và giá trị ghi nhận trong văn bản
Sử liệu triều Nguyễn Quốc sử quán triều Nguyễn Đại Nam thực lục chính biên (11 lần nhắc đến phong trào Thanh Hóa), Đại Nam nhất thống chí.
Sử liệu của Pháp Paul Bert, Daufés, Masson, Galliéni, Charles Fourniau Ghi nhận tính chất nguy hiểm, vị trí chiến lược của Thanh Hóa và chiến sự Ba Đình.
Sử học Mác-xít tổng thể Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Vũ Huy Phúc Đặt phong trào Thanh Hóa trong tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc của cả nước.
Nghiên cứu chuyên đề & Địa chí Đinh Xuân Lâm, Trịnh Nhu, Phan Trọng Báu, Địa chí Thanh Hóa Khảo cứu về các căn cứ Ba Đình, Mã Cao, Hùng Lĩnh, Trịnh Vạn và các thủ lĩnh nghĩa quân.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án khắc phục tình trạng phân tán của các công trình đi trước, thực hiện việc phục dựng một bức tranh lịch sử hoàn chỉnh trong suốt 10 năm (1885 - 1895). Công trình làm rõ những mắt xích chưa được đi sâu, bao gồm căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng của Nguyễn Ngọc Phương, căn cứ Mã Cao (Yên Định), Điền Lư (Bá Thước), Mường Kỷ (Bá Thước), phân tích cơ cấu tổ chức, hệ thống hậu cần và rút ra những luận giải khoa học về nguyên nhân thất bại và tính chất của phong trào.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận

Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phong trào giải phóng dân tộc, lý luận về đấu tranh vũ trang và sự phân hóa, vai trò của các giai cấp trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chủ yếu: Sử dụng kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử (phục dựng tiến trình các sự kiện theo trình tự thời gian khách quan) và phương pháp lôgíc (phân tích các mối liên hệ bản chất, cấu trúc phong trào, nguyên nhân và bài học).
  • Phương pháp hỗ trợ: Phương pháp mô tả lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp phân tích cứ liệu và tổng kết thực tiễn phong trào.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án được khai thác từ hai hệ thống chính:

  1. Tài liệu thành văn:
    • Tài liệu lưu trữ tại các cơ quan Trung ương và tỉnh Thanh Hóa.
    • Các bộ quốc sử của triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên (các tập 27, 36, 37, 38), Đại Nam nhất thống chí (phần Thanh Hóa).
    • Tác phẩm nghiên cứu, hồi ký, tài liệu chữ Hán, chữ Pháp xuất bản trong và ngoài nước.
  2. Tài liệu điều tra thực địa (điền dã):
    • Gia phả các dòng họ (tiêu biểu là Nguyễn tộc gia phả do Tú tài Nguyễn Ngọc Phương soạn thảo năm Tự Đức thứ 33 - 1880).
    • Văn bản phân chia điền thổ, văn tế, bằng sắc, thơ văn, truyện kể và vè dân gian (như Vè quan Tham Phương).
    • Tư liệu hồi cố của nhân chứng, khảo sát vết tích thành lũy, doanh trại, trường huấn luyện quân sự tại địa phương (Lèn Bót, Đồng Quan, Đại Đồn, Khe Tre...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Thanh Hóa trước khi phong trào yêu nước chống thực dân Pháp bùng nổ (tháng 7-1885)

Chương 1 phân tích vị trí địa lý quân sự, truyền thống yêu nước, tổ chức bộ máy cai trị, bố phòng quân sự và công tác chuẩn bị của lực lượng Cần Vương tại Thanh Hóa.

  • Vị trí chiến lược: Thanh Hóa có diện tích rừng núi chiếm 3/4 toàn tỉnh, bờ biển dài 120 km và hệ thống sông lớn (sông Mã, sông Chu, sông Yên). Nằm ở vị trí yết hầu nối liền Bắc Bộ và Trung Bộ, Thanh Hóa là địa bàn vừa có thể làm tiền phương vừa làm hậu cứ vững chắc trong lịch sử kháng chiến của dân tộc (khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu, thời Tiền Lê, thời Trần, khởi nghĩa Lam Sơn).
  • Tình hình hành chính và chính trị: Dưới thời Nguyễn, tỉnh Thanh Hóa gồm 5 phủ (Hà Trung, Thiệu Hóa, Quảng Hóa, Thọ Xuân, Tĩnh Gia) với 16 huyện và 3 châu (Quan Hóa, Thường Xuân, Lang Chánh), cùng phủ kiêm lý Trấn Man ở vùng Tây Bắc. Dân số toàn tỉnh đạt hơn 1 triệu người. Đến tháng 11-1885, thực dân Pháp chính thức can thiệp và thiết lập bộ máy cai trị thực dân bên cạnh bộ máy Nam triều.
  • Hệ thống tổ chức và bố phòng quân sự: Quân đội nhà Nguyễn tại Thanh Hóa được biên chế chặt chẽ. Số lượng binh lính qua các thời kỳ: năm 1819 (Gia Long thứ 18) có 5.755 lính; năm 1829 (Minh Mạng thứ 10) có hơn 6.400 lính; thời Tự Đức có khoảng 7.300 lính. Bộ binh địa phương được phiên chế trong vệ Hùng Võ (thuộc doanh Hổ Uy, quy mô 500 lính). Thủy binh đóng trên sông Mã (gồm 2 cơ tả thủy và hữu thủy, quân số khoảng 1.000 lính). Hệ thống đồn bảo, thành lũy và trang bị vũ khí pháo binh được ghi chép cụ thể qua sử liệu:
Tên công sự / Đồn bảo Địa điểm xây dựng Quy mô, cấu trúc và trang bị vũ khí
Bảo Biện Sơn Ngoài Cửa Bạng, huyện Ngọc Sơn Chu vi 58 trượng 8 thước 8 tấc, cao 8 thước 2 tấc; có 1 kỳ đài, 1 nhà quân, 1 kho thuốc súng, trang bị 12 khẩu đại bác.
Bảo Thổ Sơn Thôn Cư Nhân, xã Vân Trai, huyện Ngọc Sơn Thành gạch, chu vi 252 trượng, cao 9 thước 2 tấc, hào rộng 2 trượng; có kỳ đài, 8 khẩu đại bác.
Thành tỉnh Thanh Hóa Địa phận xã Thọ Hạc (Đông Sơn) Chu vi 630 trượng (mỗi trượng 4 m), cao 1 trượng, 4 cửa, hào rộng 8 trượng 8 thước; trang bị 14 cỗ hồng y cương pháo, 6 cỗ phách sơn cương pháo, 16 cỗ quá sơn đồng pháo.
Pháo đài Tĩnh Hải Phía Tây đảo Biện Sơn Chu vi 11 trượng 8 tấc, cao 5 thước 5 tấc; có 1 kỳ đài, 1 nhà quân, trang bị 4 khẩu đại bác.
Bảo Trấn Nam Địa phận huyện Tống Sơn Lũy đất, chu vi 80 trượng, cao 5 thước 5 tấc.
Thành Triệu Tường Xã Quý Hương, huyện Tống Sơn Chu vi 182 trượng, mở 3 cửa, hào nước rộng 2 trượng.
Pháo đài Vân Tụ Phía Tây thành Triệu Tường Chu vi 13 trượng 8 thước, cao 5 thước 5 tấc; trang bị 4 khẩu đại bác.
Bảo Ninh Lương & Bảo Tùng Hóa Châu Lang Chánh và châu Quan Hóa Xây dựng năm 1837 tại các vị trí hiểm yếu ngã ba sông thượng lưu để phòng giữ biên giới.
  • Sự chuẩn bị tư tưởng và tổ chức: Từ năm 1879, Tôn Thất Thuyết dưỡng bệnh tại Thanh Hóa đã xây dựng cơ sở liên lạc, cử Tống Duy Tân làm Chánh sứ sơn phòng Quảng Hóa, điều Đề đốc Trần Xuân Soạn về chỉ đạo phong trào và liên kết với Cam Bá Thước ở miền núi Thường Xuân. Khi vua Hàm Nghi ban Chiếu Cần Vương lần thứ hai (19-9-1885 tại Phú Gia, Hương Khê), triều đình kháng chiến đã xác định Thanh Hóa là địa bàn dự kiến đóng đô. Các hội nghị cán bộ chỉ huy tại Bồng Trung (Vĩnh Lộc) và chùa Trang Các (Hà Trung) vào tháng 3-1886 đã thống nhất kế hoạch xây dựng mạng lưới căn cứ liên hoàn khắp miền duyên hải, đồng bằng và miền núi.

Chương 2: Từ căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng đến khởi nghĩa Ba Đình (1885 - 1887)

Chương này đi sâu khảo sát phong trào khởi nghĩa tại phía Nam Thanh Hóa với trung tâm là căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng do Nguyễn Ngọc Phương lãnh đạo, đồng thời phân tích cuộc chiến đấu tại căn cứ Ba Đình.

  • Thủ lĩnh Nguyễn Ngọc Phương và căn cứ Hương Trì: Tú tài Nguyễn Ngọc Phương (1832 - 1887, người thôn Yên Tôn, xã Hương Trì, phủ Tĩnh Gia) đỗ tú tài năm 1878, mở trường dạy học và được Tôn Thất Thuyết cử giữ chức Tham biện sơn hải phòng quân vụ kiêm quản phủ Tĩnh Gia. Ông xây dựng căn cứ đầu tiên tại quê nhà Hương Trì (gồm khu Tây luyện võ và khu Đông rèn đúc vũ khí), tập hợp 300 - 400 nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Đề Thiện, Lĩnh Bòng, Lĩnh Quỳnh, có Ngô Xuân Quỳnh làm tổng tham mưu.
  • Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng: Được thiết lập trên địa bàn bán sơn địa tiếp giáp giữa Nông Cống, Tĩnh Gia và Thường Xuân (Như Thanh), kéo dài 20 km từ Ngã Ba Chuông đến xã Yên Thái, rộng 7 - 8 km. Căn cứ có cấu trúc 3 khu vực:
    1. Vòng ngoài (khu dân cư Ôn Lâm): Đặt các cơ sở rèn đúc vũ khí (xóm Sơn Ná), kho lương thực và hệ thống đồn tiền tiêu Cấp Ké, Yên Mỹ do Hồ Sĩ Xénh và Hồ Sỹ Can chỉ huy.
    2. Khu trung tâm (trại Ba Đồn / Đại Đồn): Nằm tại thung lũng cách Ôn Lâm 2 km, có chướng ngại vật tự nhiên Khe Tre sình lầy rộng 300 m; thành lũy đất đắp dài hơn 1 km, rộng 500 m, chân thành rộng 2 - 4 m, mặt thành 1 m, có 3 vọng gác trên ba đồi cao.
    3. Khu hậu cứ (đồn Kỳ Thượng): Đặt tại đình làng Kỳ Thượng và giáo trường Lèn Bót, là nơi đóng quân của "Đoàn nghĩa dũng cảm tử quân" gồm 300 tráng đinh. Đến đầu tháng 3-1886, quân số căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng đạt khoảng 1.000 người, được biên chế thành các cơ Nông Thanh cơ và Quảng Thanh cơ. Hệ thống kho tàng được bố trí rộng khắp tại đình Xá Lý, Phượng La Đông, Mậu Lâm, Cung Điền.
  • Hoạt động tác chiến của nghĩa quân Ôn Lâm: Chặn đánh các đợt càn quét của quân Pháp; tiến công đồn Mưng (tháng 1 và tháng 2-1886, diệt 3 lính Âu - Phi, phá huyện đường Nông Cống); đánh úp đồn Thị Long thu toàn bộ quân trang vũ khí; đánh đồn Eo Sơn; phục kích đẩy lùi quân Pháp tại đồn Cấp Ké (tháng 3-1886) và tham gia tập kích thành Thanh Hóa.
  • Khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887): Căn cứ Ba Đình (gồm 3 làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê thuộc Nga Sơn) do Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt chỉ huy đã xây dựng công sự chiến đấu độc đáo với chiến lũy tre dày đặc, hào sâu cắm chông và hệ thống công sự ngầm. Nghĩa quân Ba Đình đã anh dũng đẩy lùi nhiều đợt tổng tấn công của quân đội viễn chinh Pháp trong mùa đông 1886 - 1887, phối hợp chặt chẽ với căn cứ Mã Cao (Yên Định) trước khi mở đường rút lui bảo toàn lực lượng.

Chương 3: Khởi nghĩa Hùng Lĩnh bước phát triển mới của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa (1887 - 1895)

Chương 3 trình bày giai đoạn tiếp nối của phong trào Cần Vương Thanh Hóa sau khi căn cứ Ba Đình thất thủ, chuyển trọng tâm hoạt động về vùng trung du và miền núi hiểm trở.

  • Căn cứ Bồng Trung - Đa Bút và cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh: Tiến sĩ Tống Duy Tân (Nghè Bồng) cùng tướng Cao Điển (Cao Bá Điển) xây dựng căn cứ Hùng Lĩnh tại vùng Vĩnh Lộc, Yên Định, Thạch Thành, Cẩm Thủy. Nghĩa quân tổ chức các tuyến phòng ngự kiên cố, vận dụng chiến thuật phục kích, công đồn, đánh giao thông trên lưu vực sông Mã. Cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh là bước chuyển quan trọng từ hình thức phòng ngự chiến lũy cố định sang phương thức tác chiến cơ động linh hoạt, kéo dài bền bỉ từ năm 1887 đến cuối năm 1892.
  • Phong trào kháng chiến ở miền Tây Thanh Hóa:
    • Căn cứ Trịnh Vạn (Thường Xuân): Do thủ lĩnh người Thái Cam Bá Thước lãnh đạo, xây dựng căn cứ vững chắc giữa núi rừng đại ngàn, liên kết chặt chẽ với nghĩa quân người Mường và nghĩa quân Hùng Lĩnh dưới xuôi.
    • Căn cứ Điền Lư và Mường Kỷ (Bá Thước): Lực lượng nghĩa quân của Hà Văn Mao và Hà Văn Nho xây dựng trận địa hiểm trở, liên tục chặn đánh các đoàn hành quân của thực dân Pháp thâm nhập vùng thượng du. Phong trào miền Tây Thanh Hóa thể hiện sự gắn kết bền vững giữa các dân tộc Kinh, Mường, Thái trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược kéo dài đến tận năm 1895.

Chương 4: Đặc điểm, tính chất và kinh nghiệm của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở tỉnh Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX

Chương 4 tổng kết các vấn đề lý luận lịch sử của phong trào Cần Vương Thanh Hóa:

  • Đặc điểm nổi bật:
    • Quy tụ đông đảo tầng lớp trí thức Nho học, văn thân, sĩ phu và quan lại yêu nước giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo.
    • Phong trào mang tính nhân dân sâu sắc, thu hút toàn diện đồng bào Kinh, Mường, Thái tham gia xây dựng phòng tuyến và bảo đảm hậu cần.
    • Có sự gắn kết chiến lược giữa các địa bàn: đồng bằng ven biển, bán sơn địa và vùng núi hiểm trở, thiết lập các căn cứ liên hoàn (Ba Đình - Mã Cao, Ôn Lâm - Kỳ Thượng, Hùng Lĩnh, Trịnh Vạn).
  • Tính chất phong trào: Phong trào mang lập trường yêu nước chống ngoại xâm dưới ngọn cờ Cần Vương phong kiến nhưng nội hàm thực chất là phong trào giải phóng dân tộc mang tính chất quần chúng rộng rãi.
  • Vị trí lịch sử: Thanh Hóa là trung tâm kháng chiến kiên cường ở Bắc Trung Kỳ, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, kìm chân một lực lượng lớn quân viễn chinh và tạo điều kiện thuận lợi cho các phong trào Cần Vương ở các tỉnh khác phát triển.
  • Nguyên nhân thất bại:
    • Tương quan lực lượng quá chênh lệch về trình độ trang bị vũ khí, kỹ thuật quân sự hiện đại của thực dân Pháp so với nghĩa quân.
    • Hạn chế của ý thức hệ phong kiến; phong trào thiếu một tổ chức chỉ huy tập trung thống nhất trên quy mô toàn quốc sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (1888).
    • Khủng hoảng về đường lối cứu nước khoa học, chưa có giai cấp tiên tiến lãnh đạo.
  • Bài học kinh nghiệm: Luận án rút ra các bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc (đoàn kết lương - giáo, đa dân tộc), bài học về nghệ thuật xây dựng căn cứ địa quân sự và phương thức kết hợp giữa phòng ngự công sự với tác chiến du kích cơ động.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự đúc kết 5 đóng góp khoa học chủ yếu về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Phân kỳ lịch sử: Phân chia quá trình phát triển của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX qua hai giai đoạn cụ thể: 1885 - 1887 và 1887 - 1895.
  2. Phục dựng toàn diện hoạt động nghĩa quân: Tái hiện chi tiết diễn biến, cơ cấu và hoạt động của các đội nghĩa quân dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh: Nguyễn Ngọc Phương, Phạm Bành, Tống Duy Tân, Cam Bá Thước, Hà Văn Mao.
  3. Bổ sung khảo cứu về các căn cứ quân sự: Cung cấp tư liệu và đánh giá mới về nhân vật, cấu trúc cứ điểm quân sự và các trận chiến tại:
    • Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng của Nguyễn Ngọc Phương (Nam Thanh Hóa).
    • Căn cứ Mã Cao (Yên Định).
    • Căn cứ Điền Lư của Hà Văn Mao (Bá Thước).
    • Căn cứ Mường Kỷ của Hà Văn Nho (Bá Thước).
  4. Tổng kết lý luận lịch sử: Nêu bật các đặc điểm, tính chất, vị trí và mối liên hệ giữa phong trào tại Thanh Hóa với phong trào chung của cả nước, góp phần tổng kết lịch sử phong trào Cần Vương và phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX.
  5. Giải pháp thực tiễn: Đề xuất các ý kiến và giải pháp khoa học nhằm gìn giữ, bảo tồn hiện trạng và tôn tạo các di tích lịch sử Cần Vương tại Thanh Hóa phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển du lịch lịch sử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Do thời gian diễn ra sự kiện đã lùi xa hơn một thế kỷ, nhiều nguồn tài liệu Hán Nôm và dấu tích chiến trường tại cơ sở đã bị mai một hoặc hư hỏng.
  • Nguồn tư liệu của phía Pháp và quan chức phong kiến tay sai có nhiều điểm xuyên tạc, đòi hỏi công tác thẩm định, đối chiếu phê phán sử liệu phức tạp.
  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung khảo sát trên địa bàn hành chính tỉnh Thanh Hóa trong khung thời gian 1885 - 1895.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Tiếp tục sưu tầm và dịch thuật các nguồn tư liệu gia phả, hương ước, văn bia Hán Nôm còn lưu giữ trong các làng xã và dòng họ tại Thanh Hóa.
  • Đẩy mạnh việc khai thác kho tàng văn nghệ dân gian (folklore lịch sử) để bổ khuyết các chi tiết về đời sống và tinh thần của nghĩa quân mà sử liệu thành văn không ghi chép đầy đủ.
  • Mở rộng các nghiên cứu so sánh chuyên sâu về mối liên hệ tác chiến giữa phong trào Cần Vương Thanh Hóa với các địa bàn tiếp giáp như Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hòa Bình và vùng biên giới Việt - Lào.

Giá trị tham khảo

Công trình luận án mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận đại, phong trào Cần Vương và lịch sử quân sự truyền thống.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Cung cấp nguồn tư liệu thành văn, tư liệu điền dã có hệ thống cùng phương pháp tiếp cận chuyên khảo địa phương phục vụ học tập và nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và địa phương: Cung cấp luận cứ khoa học cho Sở Văn hóa - Thông tin, Ủy ban nhân dân các huyện Nông Cống, Nga Sơn, Vĩnh Lộc, Thường Xuân, Bá Thước trong việc lập hồ sơ di tích, quy hoạch bảo tồn, tôn tạo các căn cứ kháng chiến và xây dựng các tuyến du lịch lịch sử về nguồn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia tiến trình phong trào Cần Vương Thanh Hóa thành những giai đoạn nào?

Luận án phân chia phong trào 10 năm (1885 - 1895) thành hai thời kỳ:

  • Giai đoạn 1885 - đầu 1887: Khởi đầu từ các cuộc nổi dậy tự phát tại các làng xã, phát triển thành phong trào có tổ chức với việc hình thành căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng ở Nam Thanh Hóa và căn cứ phòng ngự Ba Đình (Nga Sơn).
  • Giai đoạn đầu 1887 - giữa 1895: Trọng tâm chuyển sang cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh do Tống Duy Tân lãnh đạo và phong trào đấu tranh vũ trang của đồng bào dân tộc thiểu số tại miền Tây Thanh Hóa (Trịnh Vạn, Điền Lư).

2. Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng có quy mô cấu trúc và quân số như thế nào?

Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng trải dài 20 km theo trục Đông Bắc - Tây Nam từ Ngã Ba Chuông đến giáp ranh Yên Thái, rộng 7 - 8 km. Căn cứ gồm 3 phân khu: Vòng ngoài (khu hậu cần xóm Sơn Ná, kho lương và đồn tiền tiêu Cấp Ké, Yên Mỹ); Khu trung tâm (trại Ba Đồn có chiến lũy đất dài hơn 1 km, rộng 500 m, được bảo vệ bởi hào đầm lầy Khe Tre rộng 300 m); Khu hậu cứ (đồn Kỳ Thượng tại đình làng và giáo trường Lèn Bót). Đầu tháng 3-1886, lực lượng nghĩa quân tại căn cứ đạt khoảng 1.000 người, trong đó có đội nghĩa dũng cảm tử quân 300 người.

3. Sĩ phu yêu nước và triều đình kháng chiến đã chuẩn bị cho cuộc kháng chiến tại Thanh Hóa như thế nào trước tháng 7-1885?

Từ năm 1879, Tôn Thất Thuyết đã về Thanh Hóa bắt liên lạc với các sĩ phu, bổ dụng Tống Duy Tân làm Chánh sứ sơn phòng Quảng Hóa, cử Đề đốc Trần Xuân Soạn về chỉ đạo chuẩn bị cơ sở, liên hệ với thủ lĩnh Cam Bá Thước ở Thường Xuân. Khi vua Hàm Nghi xuất bôn và ban Chiếu Cần Vương lần thứ hai (19-9-1885), nhà vua đã xác định Thanh Hóa là địa bàn dự kiến đóng đô. Các hội nghị tại Bồng Trung và chùa Trang Các (tháng 3-1886) đã phân công xây dựng căn cứ Ba Đình (Phạm Bành, Đinh Công Tráng) và đồn Mã Cao (Trần Xuân Soạn, Hà Văn Mao).

4. Hệ thống bố phòng quân sự của nhà Nguyễn tại tỉnh Thanh Hóa trước năm 1885 gồm những gì?

Thanh Hóa có lực lượng quân sự gồm hơn 7.300 lính thời Tự Đức, phiên chế trong vệ Hùng Võ (500 lính) và đồn thủy binh sông Mã (1.000 lính thuộc hai cơ tả - hữu thủy). Hệ thống phòng thủ gồm: Thành tỉnh Thanh Hóa (chu vi 630 trượng, trang bị 14 cỗ hồng y cương pháo, 6 cỗ phách sơn cương pháo, 16 cỗ quá sơn đồng pháo); bảo Biện Sơn (12 khẩu đại bác); bảo Thổ Sơn (8 khẩu đại bác); pháo đài Tĩnh Hải (4 khẩu đại bác); pháo đài Vân Tụ (4 khẩu đại bác); cùng các thành Triệu Tường, bảo Trấn Nam, bảo Ninh Lương và bảo Tùng Hóa.

5. Những căn cứ và thủ lĩnh quân sự nào được luận án bổ sung nghiên cứu mới?

Luận án bổ sung khảo cứu chi tiết về căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng ở Nam Thanh Hóa do Tú tài Nguyễn Ngọc Phương chỉ đạo; căn cứ Mã Cao (Yên Định); căn cứ Điền Lư (Bá Thước) của Hà Văn Mao; và căn cứ Mường Kỷ (Bá Thước) của Hà Văn Nho về mặt sơ đồ bố phòng, danh tính nhân vật chỉ huy, cơ cấu hậu cần và các trận đánh cụ thể.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Quý Thụ là công trình chuyên khảo lịch sử nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân Thanh Hóa giai đoạn 1885 - 1895. Dựa trên nguồn tư liệu thành văn kết hợp chặt chẽ với khảo sát điền dã thực địa, tác giả đã phục dựng chi tiết quá trình phát triển của phong trào qua hai giai đoạn, làm sáng tỏ cấu trúc các căn cứ địa tiêu biểu như Ôn Lâm - Kỳ Thượng, Ba Đình, Hùng Lĩnh, Trịnh Vạn. Công trình đúc kết sâu sắc các bài học lịch sử về tổ chức lực lượng, nghệ thuật quân sự truyền thống, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử Cần Vương tại địa phương.