Nghiên cứu lịch sử phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa (1885-1895)

Luận án tiến sĩ phân tích lịch sử phong trào yêu nước chống pháp của nhân dân thanh hóa cuối thế kỷ xix 18851895, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2006

273
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: THANH HÓA TRƯỚC KHI PHONG TRAO YÊU NƯỚC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP BÙNG NỔ (THÁNG 7-1885)

1.1. Vài nét về vị trí chiến lược, truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân Thanh Hóa

1.2. Tình hình tỉnh Thanh Hóa trước khi phong trào Cần Vương bùng nổ (7-1885)

2. CHƯƠNG 2: TỪ CĂN CỨ ÔN LÂM - KỲ THƯỢNG ĐẾN KHỞI NGHĨA BA ĐÌNH (1885 - 1887)

2.1. Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng và đội nghĩa quân của Nguyễn Ngọc Phương

2.2. Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa những năm 1886 - 1887

3. CHƯƠNG 3: KHỞI NGHĨA HÙNG LĨNH BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP Ở THANH HÓA (1887 - 1895)

3.1. Căn cứ Bồng Trung - Đa Bút (Vĩnh Lộc)

3.2. Cam Bá Thước, Hà Văn Mao với phong trào miền Tây Thanh Hóa

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM, TÍNH CHẤT VÀ KINH NGHIỆM CỦA PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Ở TỈNH THANH HÓA CUỐI THẾ KỶ XIX

4.1. Đặc điểm, tính chất của phong trào

4.2. Vị trí, nguyên nhân thất bại và kinh nghiệm về phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX

KẾT LUẬN

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa diễn ra trong bối cảnh lịch sử đặc biệt. Từ năm 1885 đến 1895, nhân dân Thanh Hóa đã thể hiện tinh thần yêu nước mạnh mẽ, quyết tâm chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Phong trào yêu nước này không chỉ là một cuộc khởi nghĩa đơn lẻ mà còn là một phần trong bức tranh lớn của cuộc kháng chiến chống Pháp trên toàn quốc. Các cuộc khởi nghĩa như Ba Đình, Hùng Lĩnh đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước và sự kiên cường của nhân dân nơi đây. Những hoạt động này đã góp phần quan trọng vào việc ngăn chặn sự bình định của thực dân Pháp và bảo vệ độc lập dân tộc. Như Paul Bert đã nhận định, tình hình tại Thanh Hóa có tầm quan trọng chiến lược, ảnh hưởng đến cả Bắc Bộ và miền Trung. Điều này cho thấy tính chấtđặc điểm của phong trào yêu nước ở Thanh Hóa không chỉ mang tính địa phương mà còn có ý nghĩa quốc gia.

II. Các giai đoạn phát triển của phong trào

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Từ những năm đầu của phong trào, các cuộc khởi nghĩa như Cần Vương đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều sĩ phu và nhân dân. Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng trở thành một trong những điểm tựa quan trọng cho nghĩa quân. Trong giai đoạn này, các thủ lĩnh như Nguyễn Ngọc Phương đã lãnh đạo nghĩa quân thực hiện nhiều cuộc tấn công vào các đồn bốt của thực dân. Tuy nhiên, sự thiếu hụt về vũ khí và tổ chức đã dẫn đến những thất bại đáng tiếc. Đặc biệt, cuộc khởi nghĩa Ba Đình vào năm 1886 đã thể hiện rõ sự quyết tâm của nhân dân nhưng cũng cho thấy những hạn chế trong việc tổ chức và lãnh đạo. Những thất bại này không chỉ là bài học cho phong trào yêu nước mà còn là cơ sở để các thế hệ sau rút ra kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

III. Đặc điểm và tính chất của phong trào

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa có những đặc điểm và tính chất riêng biệt. Đầu tiên, phong trào này mang tính chất tự phát, xuất phát từ lòng yêu nước sâu sắc của nhân dân. Các cuộc khởi nghĩa không chỉ diễn ra ở các vùng nông thôn mà còn lan rộng ra các khu vực đô thị. Tính chất của phong trào thể hiện qua sự đa dạng trong hình thức đấu tranh, từ khởi nghĩa vũ trang đến các hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng. Bên cạnh đó, phong trào còn có sự tham gia của nhiều tầng lớp xã hội, từ sĩ phu đến nông dân. Điều này cho thấy sự đồng lòng và quyết tâm của nhân dân Thanh Hóa trong cuộc chiến chống thực dân. Tuy nhiên, phong trào cũng gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt là sự đàn áp mạnh mẽ từ phía thực dân Pháp, dẫn đến những thất bại liên tiếp.

IV. Nguyên nhân thất bại và bài học kinh nghiệm

Mặc dù phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa đã thể hiện tinh thần kiên cường, nhưng vẫn không tránh khỏi thất bại. Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự thiếu hụt về vũ khí, tổ chức và chiến lược. Các thủ lĩnh nghĩa quân chưa có sự liên kết chặt chẽ, dẫn đến việc thiếu sự hỗ trợ lẫn nhau trong các cuộc khởi nghĩa. Hơn nữa, sự đàn áp mạnh mẽ từ thực dân Pháp đã khiến cho phong trào gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, những thất bại này cũng mang lại bài học quý giá cho các thế hệ sau. Việc tổ chức, liên kết và xây dựng chiến lược rõ ràng là điều cần thiết để nâng cao hiệu quả trong các cuộc đấu tranh. Những kinh nghiệm này không chỉ có giá trị trong bối cảnh lịch sử cụ thể mà còn có thể áp dụng cho các phong trào yêu nước sau này.

V. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa không chỉ có giá trị lịch sử mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Tài liệu này có thể được sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu lịch sử tại các trường đại học, cao đẳng. Nó giúp sinh viên và cán bộ nghiên cứu hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử, các nhân vật và sự kiện quan trọng trong phong trào yêu nước. Hơn nữa, việc bảo tồn các di tích lịch sử liên quan đến phong trào cũng góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ trẻ. Như vậy, nghiên cứu này không chỉ là một tài liệu tham khảo mà còn là nguồn cảm hứng cho các hoạt động giáo dục và tuyên truyền về lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ lịch sử phong trào yêu nước chống pháp của nhân dân thanh hóa cuối thế kỷ xix 18851895

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 THANH HÓA TRƯỚC KHI PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHÓNG THUC DAN PHÁP BÙNG NO (THANG 7-1885) 1. VAI NET VE VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC, TRUYEN THONG YÊU NƯỚC CHÓNG NGOẠI XÂM CUA NHÂN DAN THANH HOA 1. Về vị trí chiến lược Thanh Hóa - một tỉnh năm giữa Bắc Bộ và Trung Bộ, có vi trí quan trọng trong lịch sử dân tộc. Do đặc điểm địa ly đó, Thanh Hóa trở thành một dia bàn hét sức quan trọng về mặt quân sự trong các cuộc chiên tranh.

Xét về mặt địa hình, tỉnh Thanh Hóa có đủ ba vùng miền: vùng núi rộng lớn chiếm ba phần tư diện tích toàn tỉnh, vùng đồng băng ven biển và vùng biển rộng lớn với 120 km đường biến. Địa hình da dạng phức tạp, ngay giữa đồng bằng cũng có rất nhiều đôi núi kéo dai đến tận biển (dãy núi Tam Điệp). Trên vùng đất thuộc đồng bằng Thanh Hóa, cư dân người Việt cỗ đã hình thành, tồn tại và phát triển. Những phát hiện khảo cô học ở Núi Đọ, Quan Yên, Đa Bút, Con Moong, Hoa Lộc, Đông Sơn.

đã khẳng định Thanh Hóa là một trong những trung tâm về nguồn gốc hình thành và phát triển của người Việt. Theo "Lich sử Thanh Hoa", tap 1, con sông Mã được hình thành qua 5 giai đoạn va đến giai đoạn thứ tư, tức là vào giai đoạn Toản Tân sớm, con sông nay mới thực sự là sông miền đồng bằng, rồi sang giai đoạn thứ năm thì châu thổ sông Mã 6n định, có dang như hiện nay. Thanh Hóa cũng có nhiêu con sông lớn như sông Mã, sông Chu, sông Yên, và đêu khởi nguôn từ miên rừng núi bao la phía Tây của tỉnh. Bên cạnh đó còn có nhiêu hệ thông kênh do thiên tạo và nhân tạo nôi liên thông giữa các sông với nhau.

15 Thanh Hóa là một tỉnh giàu có về mặt kinh tế tự nhiên: lên rừng có nhiều sản vật, nguồn thức ăn hết sức phong phú; đồng bằng được bồi đắp bởi các sông lớn phì nhiêu, là nơi cung cấp nguồn lương thực đáng kê. Dưới biển có các loại, loài hải sản phong phú có thê phục vụ tôt đời sông cho con người. Về mặt vị trí, năm giữa miên Bac và miễn Nam rộng lớn, miên Trung bị thắt lại, như một chiéc "đòn gánh" gánh hai dau dat nước. Tinh Thanh Hóa lại ở vi trí địa dau của miên Trung, là diém dau nút của can xoong.

Muôn tiên vào Nam phải vượt qua điêm nút này và khi ra Bắc cũng vậy. Tỉnh Thanh Hóa có miền rừng núi rộng lớn, phía Bắc giáp tỉnh Sơn La, Hòa Bình; phía Tây giáp Lào. Trong chiến tranh, nếu làm chủ được địa bàn rừng núi Thanh Hóa sẽ là ban đạp tiễn xuống đồng bằng, hoặc khi rút lui có thê sang vùng Hòa Bình, lên Tây Bắc rồi qua Trung Quốc, hoặc sang rừng núi đất Lào ở phía Tây. Như vậy, ở góc độ quân sự, tỉnh Thanh Hóa là một địa bàn lợi hại khi có chiến tranh hoặc trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhất là khi tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch.

Thực tế lịch sử cho thấy, tỉnh Thanh Hóa có thể vừa là tiền phương vừa là hậu cứ chiến lược quan trọng trong các cuộc chiến tranh, trong công cuộc dựng nước và g1ữ nước của dân tộc. Kết luận đó có tính lịch sử tat yếu khách quan trong lịch sử chong ngoại xâm của dân tộc: - Trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thế kỷ I (40- 43) bị thất bại, nữ tướng Lê Hoa đã lui về ân ở vùng Nga Sơn. - Đô Dương, người làng Giàng, đã lui về quê làm căn cứ chống lại giặc Ngô. 16 - Cuộc khởi nghĩa Hai Ba Triệu năm 248 cũng lay dia ban Thanh Hóa làm căn cứ, ở ngay núi Nua (vùng Triệu Son, Nông Cống).

- Dương Đình Nghệ - Ngô Quyền tiến ra Bắc từ Ai Châu. - Đinh Bộ Lĩnh đẹp loạn 12 xứ quân lấy Thanh Hóa làm hậu cứ. - Lê Hoàn chống Tống, bình Chiêm cũng lấy Thanh Hóa làm đất căn bản. - Nhà Lý tiến ra Bắc, lây Thanh- Nghệ làm đất phên dậu phía Nam.

- Nhà Trần rút lui chiến lược về đây và phản công chiến lược cũng từ đây. - Nhà Hỗ lui về Thanh Hóa đóng kinh đô ở thành An Tôn. - Khởi nghĩa Lam Sơn lấy rừng núi Thanh Hóa làm nơi tụ nghĩa, nơi phất cờ khởi nghĩa (Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước. Thời Trung hưng nhà Lê, Nguyễn Kim lui về Thanh Hóa sang đất Lao lập căn cứ rồi sau đó đánh chiếm Thanh Hóa làm đất căn bản.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Thanh Hóa là nơi hậu cứ, hậu cần cung cấp và vận chuyên lương thực cho các chiến trường Lào và Điện Biên Phủ, Thanh Hóa còn là nơi sơ tán các cơ quan trung ương, đồng bào khu Ba. Hai lần chiến tranh phá hoại trên miền Bắc của dé quốc Mỹ, Thanh Hóa được coi là điểm tắc lý tưởng dưới cái nhìn của các nhà quân sự Mỹ và Hàm Rồng là điểm tắc lý tưởng ấy. Dé quốc Mỹ đã tập trung đánh phá Hàm Rong - Nam Ngạn và tỉnh Thanh Hóa hết sức ác liệt nhưng chúng đã thất bại. Như vậy, hầu như trong lịch sử, nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dan tộc đều diễn ra hoặc lay chỗ dựa căn bản trên đất Thanh Hóa, Thanh Hóa không chỉ là một vùng quần cư lâu đời, một vùng kinh tê, văn hóa phát triên của đât nước mà còn là địa bàn 17 chiến lược quan trọng, là căn cứ địa vững chắc của nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc từ trước đến nay.

Trong thời đại phong kiến, người dân Thanh Hóa đã ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam. Thanh Hóa là nơi phát tích của các vương triều Tiền Lê, Hậu Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, triều Nguyễn [29, tr. Đúng như Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895), nhà trí thức yêu nước có tư tưởng cải cách đã nhận xét: Thanh Hóa là một vùng đất có đủ ba điều lợi cơ ban cho việc giữ nước chông giặc: địa hiêm, binh lực va tai lực. Truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân Thanh Hóa Thanh Hóa là một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam.

Cùng với dân tộc, nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã sát cánh trên con đường đấu tranh giải phóng và xây dựng đất nước, góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Một trong những bản sắc ây là truyên thông yêu nước chông giặc ngoại xâm. Thế kỷ I có nữ tướng Lê Hoa cùng nhân dân hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Thế kỷ III (năm 248) nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã đứng lên chống giặc Ngô dưới sự lãnh đạo của nữ anh hùng dân tộc Triệu Thi Trinh.

Bước sang thế kỷ VI, cục diện chính trị và xã hội Giao Châu thay đôi. Cuộc khởi nghĩa của Ly Nam Dé tiến tới thành lập nước Vạn Xuân cho đến khi tướng Lưu Phương của nhà Tùy đem 10 van quân sang đánh phá và lật đồ vào tháng Giêng năm 603, tính ra tới 61 năm (542-603). Cuộc nổi dậy của Ly Nam Dé và Ly Phật Tử chỉ quanh quân ở vùng châu thổ sông Hong, không mấy khuấy động tới Châu Ái, Châu Hoan (vùng Thanh - Nghệ). Chỉ về sau, khi Ly Nam Dé chết ở động Khuất Lão (Vĩnh Phúc), Lý Thiên Bảo (anh ruột Lý Bí) mới kéo 2 vạn quân vào Đức Châu (Hà Tĩnh) giết chết Thứ sử Trần 18 Văn Giới, kéo quân ra vây Ái Châu (miền Tây Thanh Hóa giáp Lào) và xưng là Đào Lang Vương, Thanh Hóa lúc này mới bị khuấy động lên chút ít.

Sự kiện nổi bật ở Thanh Hóa sau Đào Lang Vuong là cuộc nỗi dậy của cha con Lê Ngọc: Thái thú Cửu Chan là Lê Ngọc cùng các con trai, con gái chia binh, đánh thành chống cự lại nhà Đường ở Cửu Chân, mãi sau mới bị quân Đường đánh bại. Dưới triều đại nhà Đường, các cuộc nổi dậy giành độc lập trong quận Giao Chỉ nồi lên liên tiếp như cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên, Dinh Kiến (687), của Mai Thúc Loan (722), của Phùng Hưng (766 - 792), của Dương Thanh (819 - 920) và họ Khúc đã dựng được nền tự chủ cho đất nước sau gần một nghìn năm Bắc thuộc. Trong thời gian này, miền Cửu Chân tương đối yên tĩnh, các đô thị cổ tương đối phát triển, giao lưu buôn bán với người Hoa, các hương, các xã được củng cô. Vào năm 622, nhà Đường lập ra Giao Châu đô hộ phủ, sau đổi thành An Nam đô hộ phủ (năm 679), chia nước ta thành 12 châu và 59 huyện.

Vào thé kỷ X, nha Hán cát cứ vùng Quảng Châu (Trung Quốc) trở nên cường thịnh và có xu hướng banh trướng. Năm 930 quân Nam Hán chia hai đường thủy, bộ tan công xâm lược nước ta. Tháng 10 - 930, bọn giặc tan công vào thành Đại La, bắt sống Khúc Thừa Mỹ đem về Quảng Châu. Thừa thắng, bọn địch thả quân đi cướp bóc các nơi, tiến vào Châu Ái (Thanh Hóa), Châu Hoan (Nghệ An), vượt dải Hoành Sơn, tấn công nước Chăm Pa, cướp vét nhiều báu vật, rồi rút về, chứ không chiếm nỗi đất đai và chinh phục được cư dân phía Nam.

Lúc này, từ đèo Ba Dội (Tam Điệp) trở vào Nam, tại các châu Ái, Hoan, các hào trưởng địa phương và tướng tá cũ của họ Khúc vẫn giữ được quyên kiêm soát đât đai và nhân dân. - Dương Đình Nghệ - người lang Giang (Thiệu Duong), một hào trưởng nồi tiếng, cũng là tướng cũ của họ Khúc đã tập hợp lực lượng tấn công thành 19 Đại La, đập tan bộ máy chỉ huy quân sự và chính trị của Nam Hán tại đây và tự xưng là Tiết Độ sứ. Sự nghiệp đang hưng thịnh, ông bị Kiều Công Tiễn mưu sát. Ngô Quyền - con ré Duong Đình Nghệ - đã đem quân bản bộ từ Ái Châu ra Bắc giết Kiều Công Tiễn, đập tan ý chí xâm lược của quân Nam Hán trên Bạch Dang Giang năm 938, xưng nền tự chủ, cham dứt nghìn năm Bắc thuộc.

- Thời Đinh: Dinh Bộ Linh là một xứ quân hùng mạnh, đã thống nhất được loạn 12 xứ quân, thành lập nhà Dinh. Trong cuộc chinh phục ấy có sự đóng góp rất lớn lao của nhân dân Thanh Hóa, trước hết là lực lượng vật chat, tinh thần và binh lính, sau nữa là những con người hùng tải thao lược như Lê Hoàn: Thập đạo sứ quân. - Triều đại Lý kéo dài 216 năm, so với nhà Dinh 13 năm và nhà Tiền Lê 29 năm, là một triều đại khá dài trên đất nước ta.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa (1885-1895): Nghiên cứu lịch sử" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phong trào yêu nước tại Thanh Hóa trong giai đoạn cuối thế kỷ 19, khi người dân địa phương đứng lên chống lại sự đô hộ của thực dân Pháp. Tác giả phân tích các nguyên nhân, diễn biến và hậu quả của phong trào, đồng thời nhấn mạnh vai trò của các nhân vật lịch sử quan trọng trong cuộc đấu tranh này. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc mà còn khơi dậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm đối với quê hương.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phong trào yêu nước khác trong lịch sử Việt Nam, bạn có thể tham khảo bài viết cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam 1939-1945. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những nỗ lực tiếp theo trong cuộc chiến giành độc lập và tự do cho dân tộc.