Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại 1. Khái niệm Trước khi tìm hiểu khái niệm về các tội xâm phạm TTQLKT trong lĩnh vực SX, KD, TM, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm về các tội xâm phạm TTQLKT. Đầu tiên, cần nhận thức rằng: TTQLKT là tổng thể các quy trình, thủ tục, nội dung, phạm vi, địa vị pháp lý của chủ thể khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa, sản phẩm cũng như sử dụng các nguồn tài nguyên để tạo ra lợi nhuận.
Trật tự này do nhà nước quy định nhằm đảm bảo quyền của chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng, đảm bảo ổn định và tăng trưởng kinh tế. Về các tội xâm phạm TTQLKT chính là sự quy định cụ thể trên cơ sở kế thừa chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với hành vi xâm phạm TTQLKT của Nhà nước, đồng thời, phản ánh kết quả phát triển của nền kinh tế quốc dân trong giai đoạn cải cách, đổi mới hiện nay. Trong các giáo trình Luật hình sự và Tội phạm học, khái niệm tội phạm xâm phạm TTQLKT được trình bày khá đơn giản và thống nhất. Xuất phát từ hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, có thể đưa ra được khái niệm này như sau: Các tội phạm xâm phạm TTQLKT là hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước trong quản lý kinh tế, xâm phạm cơ chế Nhà nước quản lý, vận hành nền kinh tế, gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế, lợi ích của Nhà nước, các chủ thể của nền kinh tế và người tiêu dùng.
Tổng kết quá trình thi hành BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS năm 1999) cho thấy một số quy định tại chương các tội xâm phạm TTQLKT không còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, nhiều tội phạm mới phát sinh 7 trên thực tế chưa được bổ sung hoặc tuy đã được bổ sung nhưng chưa đầy đủ, toàn diện, nhất là tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại… Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển lành mạnh, bền vững của nền kinh tế cũng như công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm. Do vậy, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung mới quan trọng, trong đó quy định các tội xâm phạm TTQLKT tại Chương XVIII, gồm có 47 tội danh. Đối với lĩnh vực SX, KD, TM được quy định tại Mục 1 Chương này, gồm 12 tội danh từ Điều 188 đến Điều 199. Đây cũng là nhóm tội phổ biến nhất trong các tội xâm phạm TTQLKT hiện nay, bao gồm: [19, tr.
Tội buôn lậu Điều 189. Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới Điều 190. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Điều 192.
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả Điều 193. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm Điều 194. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh Điều 195. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi Điều 196.
Tội đầu cơ Điều 197. Tội quảng cáo gian dối Điều 198. Tội lừa dối khách hàng Điều 199. Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm các tội phạm xâm phạm TTQLKT trong lĩnh vực SX, KD, TM như sau: “Các tội phạm xâm phạm TTQLKT trong lĩnh vực SX, KD, TM là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại TTQLKT nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân”.
Các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại Các tội xâm phạm TTQLKT trong lĩnh vực SX, KD, TM mang đầy đủ các đặc điểm của tội phạm hình sự nói chung như tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính phải chịu hình phạt… Theo quy định tại BLHS 2015, cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm TTQLKT trong lĩnh vực SX, KD, TM bao gồm những yếu tố sau đây: Về chủ thể: Chủ thể của các tội phạm xâm phạm TTQLKT trong lĩnh vực SX, KD, TM có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Đối với “Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện”, chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn nhất định trong các cơ quan, tổ chức kinh tế (chủ thể đặc biệt). Về khách thể: Các tội xâm phạm TTQLKT trong lĩnh vực SX, KD, TM xâm phạm trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhằm bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đó là chế độ quản lý điều hành toàn bộ nền kinh tế của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích của nhà nước, của các tổ chức kinh tế, quyền, lợi ích, tính mạng sức khỏe của người dân… được thể chế hóa trong quy định pháp luật.
Về mặt khách quan: Các tội xâm phạm TTQLKT trong lĩnh vực SX, KD, TM bao gồm những hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế ở các mức độ khác nhau. Hành vi phạm tội đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân hoặc cho từng ngành lĩnh vực nhất định. Trong lĩnh vực này, chỉ duy nhất “Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện”, hành vi phạm tội có thể được thể hiện dưới dạng không hành động, còn những tội khác đều được thể hiện dưới dạng hành động. Hậu quả xảy ra có thể ở những mức độ rất khác nhau (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) như: Làm rối loạn thị trường, mất cân đối cung cầu, làm ảnh hưởng xấu đến nền sản xuất hàng hoá của cả nước; thậm chí có những tội phạm còn làm cho người tiêu dùng thiệt hại không những cả về vật chất, sức khoẻ mà có khi còn nguy hiểm đến tính mạng.
Đối với một số tội, hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. 9 Về mặt chủ quan: Các tội xâm phạm TTQLKT trong lĩnh vực SX, KD, TM được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. Khi thực hiện hành vi, người phạm tội đều ý thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc với ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Mục đích và động cơ phạm tội chủ yếu là vụ lợi.
Có thể thấy rằng: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các quy định trong Chương XVIII BLHS năm 2015 đã có sự phân định rõ mức độ nào thì coi là tội phạm và mức độ nào chưa phải là tội phạm. Các tội này thường nhằm mục đích vụ lợi nên đối với người phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng, để tạo điều kiện và giáo dục họ trở thành người tốt, hình phạt chính chỉ áp dụng là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn. Đối với một số tội phạm gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lượng thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 193, Điều 194), mức cao nhất của khung hình phạt quy định đến chung thân, tử hình. Ngoài ra, tuỳ theo hậu quả và mức độ thu lợi bất chính mà người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như: Phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
Nhận thức về phòng ngừa các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại 1. Khái niệm Ở nước ta, phòng ngừa tội phạm là vấn đề sớm được nghiên cứu trong khoa học pháp lý hình sự. Theo GS, TS. Võ Khánh Vinh: Phòng ngừa tội phạm là hệ thống các biện pháp Nhà nước và xã hội nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, làm giảm bớt hoặc tiến tới loại trừ tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội… Phòng ngừa tội phạm là hoạt động mang giá trị nhân đạo xã hội, đồng thời có hiệu quả kinh tế xã hội cao.
Theo GS, TS. Nguyễn Xuân Yêm: Phòng ngừa tội phạm là một bộ phận lớn của vấn đề phòng ngừa các vi phạm pháp luật. Phòng ngừa và ngăn chặn các hành 10 vi vi phạm pháp luật chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, hạn chế các nguyên nhân của nó sẽ tạo ra những điều kiện để cản trở việc phát triển những hành động trái pháp luật thành tội phạm. Phòng ngừa tội phạm là trách nhiệm của toàn xã hội, không phải riêng của bất kỳ một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào.
Do đó, chủ thể phòng ngừa bao gồm tất cả các bộ phận cấu thành nên hệ thống chính trị như: Đảng Cộng sản Việt Nam, các cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương và địa phương, cơ quan tư pháp, tổ chức và công dân. Trong đó, Cơ quan Công an, VKSND, TAND là những chủ thể chủ yếu của phòng ngừa tội phạm. Như vậy, có thể nói rằng: Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của toàn thể hệ thống chính trị, áp dụng đồng bộ, tổng hợp các biện pháp nhằm mục đích thủ tiêu nguyên nhân, điều kiện phạm tội, loại bỏ các yếu tố tiêu cực làm nảy sinh tội phạm, từ đó, từng bước loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.