Chương 1: Vương Trọng - nhà thơ trận mạc, nhà thơ công dân. Chương 2: Vương Trọng - nhà thơ thế sự. Chương 3: Ngôn ngữ - nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ Vương Trọng. 17 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: VƢƠNG TRỌNG - NHÀ THƠ TRẬN MẠC, NHÀ THƠ CÔNG DÂN.
Thơ ca chống Mỹ và những đóng góp của nhà thơ Vương Trọng. “Thơ là sự phản ánh con người và thời đại một cách cao đẹp”(11). Qua thơ văn, độc giả không chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp tâm hồn, chiều sâu tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan của cá nhân tác giả, qua thơ, người đọc còn thấy hừng hực hơi thở cuộc sống, hơn hết là tinh thần của cả một dân tộc trong từng thời đại. Còn đó, sang sảng thơ thần lời hùng thiêng sông núi của Lý Thường Kiệt bên bờ sông Như Nguyệt; còn đó áng “Thiên cổ hùng văn” của nhà quân sự, nhà văn hóa, người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi bố cáo với muôn dân trong thiên hạ về một thời đại huy hoàng; còn đó niềm căm phẫn xót đau, lòng yêu nước cuộn trào trong khao khát chiến thắng của vị Quốc Công Trần Quốc Tuấn; còn đó, những vần thơ thấm lệ của đại thi hào Nguyễn Du xót thương kiếp người lưu loạn… Văn thơ là vậy, nhà văn nhà thơ đâu phải chỉ là ngừời “thư kí trung thành” của thời đại, ghi lại tường tận từng sự kiện, biến cố, mà quan trọng hơn, qua từng sự kiện biến cố đó, nhà văn làm sống dậy tinh thần, linh hồn sức sống của cả một dân tộc.
Thơ văn chống Mỹ cũng đã đảm trách nhiệm vụ, chức năng đó một cách đầy xuất sắc. Nói đến thơ văn chống Mỹ cứu nước, chúng ta phải thấy được sự hiện diện của ba thế hệ nhà văn nối tiếp trưởng thành. Thế hệ các nhà thơ thành danh từ giai đoạn trước cách mạng, kinh qua giai đoạn chống Pháp và tiếp tục cống hiến trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Ở thế hệ các nhà thơ 18 này, chúng ta thấy được những nỗ lực không mệt mỏi của nhiều nhà thơ lớn mà tên tuổi của họ gắn liền với phong trào Thơ Mới.
Xuân Diệu – “ông hoàng của thơ tình” với niềm khao khát giao cảm với đời đã nỗ lực bắt mạch vào cuộc sống và nguồn sáng của cách mạng một cách nhanh chóng tuy có khi còn nhiều đau đớn và chưa theo kịp với sự đổi mới, sự chuyển mình của cuộc sống. Tuy vậy, trong hành trình trở về với “cha tôi là nhân dân, mẹ tôi là Tổ quốc”, Xuân Diệu đã tạo nên một phong cách mới và cũng thành công không kém ở kháng chiến chống Mỹ. Vượt qua thung lũng đau thương đến với cách đồng vui”, Chế Lan Viên với chất trí tuệ sắc sảo đem đến cho thơ chống Mỹ một phong cách chính luận độc đáo với Hoa ngày thƣờng & Chim báo bão. Huy Cận - người đi “lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não” giai đoạn trước cách mạng, thời kì này ông đóng góp cho thơ chống Mỹ liên tục nhiều tập thơ có giá trị : Đất nở hoa , Bài thơ cuộc đời, Hai bàn tay em,… Bên cạnh các nhà thơ “lão thành” là các nhà thơ trưởng thành từ giai đoạn kháng chiến chống Pháp, trong những năm hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc như Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nông Quốc Chấn, Hoàng Trung Thông, … Và đặc biệt, thơ ca chống Mỹ “tươi trẻ”, khỏe khoắn hơn với sự xuất hiện ngoạn mục của thế hệ các nhà thơ trẻ với nhiều tên tuổi: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly, Thanh Thảo.
So với đội ngũ nhà thơ chống Pháp thì các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ đã tạo ra cho thế hệ mình một phong cách riêng: trẻ trung, năng nổ, xông xáo, nhiệt huyết và luôn phơi phới niềm hân hoan và niềm tin tất thắng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ là cuộc chiến tranh toàn dân, chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Đáp ứng nhiệm vụ xây dựng pháo đài tâm hồn dân tộc, làm sáng tỏ mục đích cao cả của cuộc chiến đấu, tác động vào tình cảm, 19 nâng cao năng lực và ý chí chiến đấu bất khuất giành chiến thắng, thơ ca thời kỳ này biểu hiện sâu sắc lòng yêu nước, lòng tự hào về truyền thống, về thắng lợi hiện tại và niềm tin vào tương lai. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng là nội dung chủ yếu , là cảm hứng chủ đạo được thơ khai thác và biểu hiện với nhiều sắc thái khác nhau.
Thơ ca thời kỳ này xoáy sâu vào đề tài Tổ Quốc, vào cuộc chiến đấu xây dựng và bảo vệ đất nước. Nằm chung trong mạch nguồn sôi nổi ấy, tiếng thơ Vương Trọng thời kỳ này đã hòa vào dàn đồng ca chung ngợi ca đất nước , bộc lộ niềm tin tưởng , lạc quan vào chiến đấu và chiến thắng của dân tộc, thể hiện sức mạnh của tuổi trẻ, chất lính trẻ trung, tếu táo của một nhà thơ mặc áo lính. Cảm hứng về con ngƣời trong chiến tranh và thời kỳ hậu chiến 1. Hình ảnh ngƣời lính Khi viết “Đôi lời giữa cuộc thi thơ”, nhà thơ Vương Trọng khẳng định: “Đề tài chiến tranh, quân đội là một vùng đất màu mỡ và có nhiều vấn đề làm trái tim người đọc rung động mạnh”(18).
Đó là nhận định của một nhà thơ quân đội nhiều trải nghiệm cả đã thành danh trên mảng đề tài vốn đã có nhiều người khai thác. Hình ảnh người lính trên các chiến trường đối mặt với gian nguy và thầm lặng hy sinh vì sự bình yên của Tổ quốc luôn luôn ám ảnh nhà thơ. Ông đã viết về họ bằng một trái tim đồng cảm, xót đau nhưng rất đỗi tự hào. Trong thơ, hình ảnh người lính đã thu hút nhiều bút lực.
Anh giải phóng quân mang theo nhiều vẻ đẹp qua thơ Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly.Người chiến sĩ trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ xuất hiện ở một tư thế đẹp, tài hoa, dũng cảm và có trình độ. Có một dấu nối rất đẹp giữa người chiến sĩ hôm qua với người chiến sĩ hôm nay, người chiến sĩ chống Pháp với người chiến sĩ thời chống Mỹ cứu nước. Nhưng, như Giáo 20 sư Mã Giang Lân nhận xét “người chiến sỹ hôm nay có thêm chiều cao, tầm vóc chưa từng thấy” “Anh đi xuôi ngược tung hoành Bước dài như gió lay thành chuyển non Mái chèo một chiếc xuồng con Mà sông núi dậy sóng cồn đại dương” (Tố Hữu- Tiếng hát sang xuân) Cái bản chất, cái mục đích là một, nhưng tư thế, suy nghĩ, hành động đã màu sắc, đã lung linh hơn” (16). Trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, những vần thơ Vương Trọng ra đời trong bom đạn chiến tranh, trong cái không khí chung của một thời đại anh hùng.
Hình ảnh người lính trong thơ ông cũng mang trong mình vẻ đẹp lãng mạn, nhiều mộng mơ: “Nằm võng không có gối vẫn êm Không trở mình suốt đêm không mỏi Nằm ngoài trời mà nắng sương không tới Bởi cây rừng biết chiều ý ta” (Bài thơ nằm võng) “Bài thơ nằm võng” là một trong những tác phẩm đầu tay của Vương Trọng, đó là bài thơ đạt giải báo Văn nghệ năm 1969 – 1970. Bài thơ ra đời năm 1969, năm khốc liệt nhất, khó khăn nhất của của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cả nước hừng hực khí thế “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Trên khắp nẻo đường Tổ quốc, từ nông thôn đến thành thị, từ miền xuôi đến miền ngược, từ Nam ra Bắc đâu đâu cũng một tinh thần “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”( Tố Hữu).
Nằm trong mạch nguồn ấy, “Bài thơ nằm võng” là khúc hát mê say, lạc quan, tin tưởng. Ở đó hình ảnh người lính hiện lên thật thi vị, lãng mạn. Sau những trận đánh hay 21 lúc hành quân mệt mỏi, tạm dừng chân trú quân trong rừng rậm, cánh võng trở thành nơi lý tưởng nhất để ngả lưng. “Nằm võng thấy cây rừng chao động Tán lá như sàng các vì sao” Bầu trời nhìn qua cánh rừng trong đôi mắt người lính thật lấp lánh: “Tán lá như sàng các vì sao”.
Sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú, thú vị có lẽ chỉ bắt gặp trong tâm hồn mơ mộng, lãng mạn của những chàng lính trẻ yêu đời, hồn nhiên, trong trẻo. Tuy nhiên, “Bài thơ nằm võng” không chỉ đẹp bởi tâm hồn trẻ trung, mộng mơ của người lính, bài thơ đẹp còn bởi ở đó, người đọc bắt gặp lý tưởng sống, lý tưởng cách mạng cao cả của họ. Nằm võng suốt đêm, không có gối, không trở mình sao mà không mỏi, nằm võng ngoài trời sao mà nắng sương không tới, không thấm vào da thịt? Đó không chỉ là cách nói mà còn là cách sống, là lý tưởng sống của họ. Phải ở nơi tận cùng của khó khăn, nguy hiểm, phải đứng ở ranh giới của sự sống và cái chết, phải chứng kiến sự ra đi của những người đồng đội hôm qua còn sát cánh bên mình, hôm nay đã về với đất mẹ thì mới thấy được niềm lạc quan, tin tưởng, thái độ ung dung, thảnh thơi đó cần thiết, đáng quý biết bao.
Không khí của thời đại thúc giục con người phải sống mạnh mẽ, yêu đời hơn. Sống, chiến đấu, và chiến thắng là nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng của cả dân tộc, và cả thế hệ mỗi cá nhân. Vương Trọng là một người lính. Ông hiểu hơn ai hết trách nhiệm, nghĩa vụ của người lính Trường Sơn.
Ông hòa mình trong dòng thác mãnh liệt của thời đại, sống và tận hiến cho cuộc sống, lý tưởng mà mình đã lựa chọn. Vì thế, thơ ông rất thực, rất đời. Không cầu kì hoa mỹ mà vẫn toát lên cái khí thế của cả một thời kỳ lịch sử. Những người lính Trường Sơn là vậy, họ sống bằng niềm lạc quan và niềm tin chiến thắng: “Một hàng quân bước, hai hàng người vui”(Ngọc Tấn); “Mỗi trang thơ đều rộn tiếng ta cười”(Chế Lan Viên).
Trong đôi mắt họ “ra chiến trường như trẩy hội mùa xuân”(Xuân Thiêm). 22 Trong đôi mắt Vương Trọng người lính, vì thế mà mỗi chuyến xe chở hàng ra mặt trân cũng đều hiện lên rất chân thực mà nên thơ. Bài thơ “Chiến hào ra trận” đã khắc họa những khoảnh khắc kiên hùng và lãng mạn đó của người lính lái xe: “Xe chạy nhanh Bỏ lại sau lưng nhiều vết đạn Xe dừng đột ngột Ném ra phía trước một hố bom Xe rung trong tiếng rít gầm Người lái xe nhô đầu ngoài buồng số Bám từng chiếc máy bay Và cứ thế, xe khi dừng khi chạy Như thách thức quân thù.