Chương 1: Những vấn đề lý luận về phí bảo vệ môi trường và pháp luật về phí bảo vệ môi trường Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về phí bảo vệ môi trường ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về phí bảo vệ môi trường ở Việt Nam. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1. Những vấn đề lý luận về phí bảo vệ môi trƣờng 1. Khái niệm phí bảo vệ môi trường Hoạt động BVMT là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.
[46, Khoản 3, Điều 3] Phí BVMT là một công cụ kinh tế được áp dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra các thiệt hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Việc thu phí BVMT có vai trò hết sức quan trọng trong công tác quản lý môi trường khi mà ngân sách nhà nước còn khó khăn, khả năng phân bổ kinh tế cho mục tiêu quản lí và BVMT còn hạn chế như ở nước ta hiện nay. Hướng đi này vừa giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa đạt được mục tiêu BVMT với hiệu quả cao. Hiện nay, các tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động xấu tới môi trường có nghĩa vụ phải nộp phí BVMT.
Khái niệm phí BVMT cũng có cùng nội hàm với khái niệm về phí nói chung. Một cách khái quát, khác với thuế, phí là những khoản thu mà người nộp sẽ được hưởng những quyền, lợi ích cụ thể khi nộp phí. Phí luôn gắn với việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc dịch vụ công ích. Mức phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí để thực hiện dịch vụ công đó.
Đối với dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công ích, mức độ thụ hưởng là khác nhau giữa các chủ thể, nên phí được xác định tỷ lệ với chi phí của nhà nước đã bỏ ra, hay nói cách khác, tính đối giá của phí khá rõ ràng. [28] Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Luật phí và lệ phí năm 2015 thì “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật”. So sánh với quy định tại Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 thì sự sửa đổi này đã phản ánh đúng được bản chất của các khoản thu, quy định rõ và phân biệt hai chủ thể “người nộp phí” với “tổ chức thu phí”. Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về phí BVMT: “Phí BVMT là một khoản thu của ngân sách Nhà nước, được thu từ các chủ thể xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh các nguồn tác động xấu đối với môi trường nhằm bổ sung nguồn tài chính để sử dụng cho công tác quản lý và BVMT”.
Có thể nói đây là một công cụ quản lí cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lí nhằm đạt được các mục tiêu môi trường. Và đây cũng là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các tổ chức và là một nhu cầu tất yếu của xã hội nhằm BVMT. Trên thực tế, phí BVMT được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau. Hiện nay, trên thế giới, đa số các nước căn cứ vào đối tượng thu phí để chia thành các loại phí sau đây: - Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm.
Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm là phí phải trả cho việc thải các chất thải như nước thải hoặc là các yếu tố vật chất là đối tượng tác động của các hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường. Người xả thải phải chỉ trả một khoản tiền nhất định 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho mỗi đơn vị chất gây ô nhiễm do việc phát thải ra môi trường. Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm lượng (nồng độ) chất gây ô nhiễm. Mục đích của việc áp dụng loại phí này là nhằm khuyến khích các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh giảm lượng thải các chất độc hại ra môi trường, hướng tới hành vi thân thiện hơn với môi trường.
- Phí đánh vào người sử dụng. Phí đánh vào người sử dụng là khoản phí phải trả cho dịch vụ gom và xử lý chất thải (như hệ thống thoát nước, thu gom rác thải…). Các khoản thu này dùng để bù đắp cho hoạt động của hệ thống thu gom, xử lý chất thải. Loại phí này chủ yếu được dùng để áp dụng đối với các loại chất thải có thể kiểm soát.
- Phí đánh vào sản phẩm. Phí đánh vào sản phẩm là khoản tiền phải trả khi hàng hóa được sử dụng có nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường. Thông thường với hàng hóa nhập khẩu người ta sử dụng thuế môi trường còn đối với hàng hóa sử dụng trong nước thì sử dụng phí đánh vào sản phẩm. Mức thu phí sẽ tùy thuộc vào mục đích thu.
Đối với mục đích tăng thu ngân sách, mức phí sẽ được xác định dựa vào tổng mức thu dự định hàng năm và số sản phẩm sẽ được tiêu thụ. Đối với mục đích khuyến khích giảm ô nhiễm thì mức phí sẽ được xác định dựa vào các tác nhân: độ co giãn về giá cả đường cầu của sản phẩm bị đánh phí, khả năng tồn tại sản phẩm thay thế ít gây ô nhiễm hơn và mục tiêu giảm lượng ô nhiễm. Tuy nhiên, phí đánh vào sản phẩm chỉ đạt được hiệu quả tối ưu khi trên thị trường có sản phẩm có khả năng thay thế với đặc điểm là sản phẩm này có khả năng thay thế và ít ảnh hưởng tới môi trường hơn. Chỉ khi có sản phẩm thay thế thì người tiêu dùng mới có cơ hội lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường hơn.
[31] Ở Việt Nam hiện nay, phí BVMT là loại phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm được tính theo lượng phát thải ra môi trường và thiệt hại gây ra cho 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com môi trường (phí BVMT đối với nước thải) hoặc từ sản lượng quy ra chất thải gây ô nhiễm (phí BVMT đối với khai thác khoáng sản). Còn phí đánh vào sản phẩm, hàng hóa chúng ta quy định dưới dạng là thuế BVMT. Thuế BVMT và phí BVMT là hai công cụ kinh tế hữu hiệu nhằm ngăn chặn các tác nhân gây ÔNMT, khuyến khích ý thức tiết kiệm, giảm bớt sự lãng phí trong quá trình khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tăng cường các biện pháp BVMT. Tuy nhiên, hai công cụ này có những điểm khác nhau cần phải phân biệt, cụ thể: - Thuế BVMT là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hoá khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường còn phí BVMT là loại phí đánh vào quy trình sản xuất, nguồn gây ô nhiễm.
Hàm lượng, nồng độ các chất gây ô nhiễm có trong chất thải của chủ thể càng cao thì số phí mà chủ thể phải nộp càng cao và ngược lại. - Phí BVMT nhằm làm thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm và bổ sung nguồn tài chính để chi trả cho các hoạt động cải thiện môi trường. Thuế BVMT nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước lấy từ người gây ô nhiễm và gây thiệt hại cho môi trường để bù đắp cho các chi phí xã hội như gây quỹ tài trợ cho các hoạt động để xử lý ÔNMT. - Thuế BVMT không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp, trong khi tính đối giá và hoàn trả trực tiếp của phí BVMT khá rõ ràng, mức phí được xây dựng theo nguyên tắc bù đắp chi phí xử lý ÔNMT.
Đặc trưng của phí bảo vệ môi trường Là một công cụ trong hệ thống các công cụ kinh tế BVMT, phí BVMT có những đặc điểm chung của các công cụ kinh tế, đó là công cụ hoạt động thông qua giá cả, chúng nâng giá của hoạt động làm tổn hại đến môi trường 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lên hoặc hạ giá của các hoạt động BVMT xuống. Nếu hoạt động tác động làm ÔNMT càng lớn thì phí BVMT phải nộp càng cao, điều đó dẫn đến giá thành sản phẩm cũng cao hơn. Ngược lại, hoạt động tác động ít ảnh hưởng tới môi trường hơn thì phí BVMT phải nộp sẽ giảm và giá thành sản phẩm không cao hơn so với doanh nghiệp gây ảnh hướng xấu tới môi trường. Ngoài ra, phí BVMT cũng có những đặc trưng riêng để phân biệt với các công cụ kinh tế khác, cụ thể: Thứ nhất, chủ thể nộp phí BVMT là các cá nhân, tổ chức bao gồm cả hộ gia đình xả thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động xấu tới môi trường.
Phí BVMT mà các chủ thể phải nộp thực chất là số tiền họ phải trả cho Nhà nước để nhận được sự cung cấp dịch vụ từ phía Nhà nước, đó là các hoạt động nhằm bảo vệ và đầu tư cho môi trường tại địa phương nơi họ xả thải hoặc khai khoáng mà đáng lẽ những hoạt động này phải do chính các chủ thể đó thực hiện. Thứ hai, đối tượng chịu phí BVMT là các chất thải như nước thải hoặc là các yếu tố vật chất là đối tượng tác động của các hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường như các loại kháng sản: đất, cát, sỏi, đá, than… trong hoạt động khai thác khoáng sản. Khác với thuế BVMT, phí BVMT là khoản thu trực tiếp vào chủ thể xả thải. Người chịu phí và người nộp phí là cùng một chủ thể.
Thứ ba, phí BVMT mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp.