Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng làng nghề và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng làng nghề. Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng làng nghề và thực tiễn thi hành tại Việt Nam. Chương 3: Đề xuất giải pháp pháp lý về kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng làng nghề và nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng làng nghề. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG LÀNG NGHỀ 1.
Lý luận về làng nghề, ô nhiễm môi trƣờng làng nghề và kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng làng nghề 1. Khái quát về làng nghề 1. Khái niệm làng nghề Từ trƣớc đến nay, chúng ta chƣa có một cách hiểu thống nhất về khái niệm “làng nghề”. Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm này.
Phạm Côn Sơn thì: Làng nghề đƣợc định nghĩa là một đơn vị hành chính cổ xƣa mà cũng có nghĩa là nơi quần cƣ đông ngƣời, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cƣơng tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những ngƣời cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm [32]. Còn xét theo góc độ kinh tế, trong tác phẩm “Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của mình, TS. Dƣơng Bá Phƣợng cho rằng: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập.
Thu thập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng” [37]. Xét về mặt pháp lý, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2018 của Thủ tƣớng Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn thì: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để đƣợc công nhận là làng nghề thì phải thỏa mãn các tiêu chí sau: Thứ nhất, có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2018 của Thủ tƣớng Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn thì các hoạt động ngành nghề nông thôn bao gồm: chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ; sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh; sản xuất muối; các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cƣ nông thôn.
Do đó, nếu trên một khu vực thôn, ấp, bản, làng, buôn. có ít nhất 20% tổng số hộ dân tham gia một trong các ngành nghề nêu kể trên sẽ thỏa mãn tiêu chí thứ nhất để đƣợc công nhận là một làng nghề. Thứ hai, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Làng nghề đƣợc hƣởng nhiều chính sách ƣu đãi và quyền lợi hơn so với những làng thông thƣờng.
Do đó, để đƣợc công nhận là làng nghề thì hoạt động sản xuất kinh doanh ở đó phải ổn định trong một khoảng thời gian nhất định mà pháp luật quy định là tối thiểu 02 năm liên tục nhằm đảm bảo đạt đƣợc một nền tảng hoạt động vững chắc, tiến tới sự phát triển bền vững, lâu dài. Thứ ba, đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trƣờng làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành. Để trở thành làng nghề thì tiêu chuẩn về môi trƣờng là một trong những điều kiện bắt buộc. Làng nghề hiện nay thƣờng nằm trong khu dân cƣ.
Do vậy, để đảm bảo hoạt động sản xuất và môi trƣờng sống của ngƣời dân trong khu vực cần đảm bảo môi trƣờng làng nghề không bị ô nhiễm. Làng nghề phải đáp ứng đƣợc những điều kiện bảo vệ môi trƣờng thì mới đảm bảo đƣợc sự tồn tại lâu dài và phát triển bền vững. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm làng nghề • Đặc điểm về sản phẩm Ngày xƣa, sản phẩm của làng nghề đƣợc tạo ra để phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày hoặc công cụ sản xuất nông nghiệp của ngƣời dân.
Tuy nhiên, ngày nay sản phẩm của làng nghề đã đƣợc đa dạng hóa với những sản phẩm phục vụ công nghiệp và xây dựng nhƣ nung vôi, làm gạch, gốm sứ, nề mộc,… • Đặc điểm về nguyên, vật liệu Hầu hết nguyên liệu của làng nghề đƣợc lấy từ chính địa bàn làng nghề nhƣ đất sét, mây, tre, gỗ,… để thuận tiện cho việc sản xuất, giảm thiểu chi phí vận chuyển nguyên liệu. Tuy nhiên, đối với một số làng nghề có quy mô sản xuất lớn, nguyên liệu tại chỗ không đủ nên phải thông qua bƣớc trung gian hoặc liên kết với những ngƣời mua gom nguyên liệu ở nhiều nguồn khác nhau. • Đặc điểm về hình thức tổ chức sản xuất Hình thức tổ chức sản xuất chính tại các làng nghề hiện nay chủ yếu ở quy mô hộ gia đình. Bên cạnh đó, các hình thức nhƣ tổ chức hợp tác, doanh nghiệp tƣ nhân, hợp tác xã kiểu mới, cũng dần trở thành hình thức sản xuất phổ biến tại các làng nghề ở Việt Nam hiện nay.
• Đặc điểm về chất lượng, trình độ lao động Hầu hết lao động tại các làng nghề là lao động thủ công. Trƣớc kia, do trình độ kỹ thuật và công nghệ chƣa phát triển nên hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công đơn giản. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc sử dụng các máy móc, thiết bị vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã góp phần giảm bớt lực lƣợng lao động thủ công. Tuy nhiên, một số sản phẩm đặc thù vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh sảo.
Vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội Ở Việt Nam hiện nay có nhiều nghề thủ công truyền thống gắn liều với lịch sử dân tộc. Trải qua bao nhiêu thăng trầm, các làng nghề đã hình thành, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tồn tại và phát triển cho đến tận bây giờ, góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa của cha ông ta để lại và và góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông thôn mới, làng nghề truyền thống đóng vai trò rất quan trọng. Tạo việc làm cho người lao động: Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho ngƣời lao động ở nhiều địa phƣơng.
Bên cạnh đó, làng nghề còn có ý nghĩa trong việc tạo việc làm cho lao động lớn tuổi, lao động trình độ văn hóa thấp hay lao động có hoàn cảnh khó khăn, tạo việc làm cho ngƣời nông dân lúc nông nhàn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Theo chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, việc phát triển làng nghề sẽ tận dụng đƣợc nguồn nguyên liệu tại chỗ, làm tăng khả năng tích lũy vốn và kỹ thuật, hỗ trợ cho nông nghiệp, công nghiệp và các loại hình dịch vụ khác ở nông thôn phát triển. Việc phát triển làng nghề sẽ thúc đẩy quá trình nông thôn mới, thu hút lao động địa phƣơng, làm giảm làn sóng nhập cƣ về thành phố gây ra nhiều vấn đề. Góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc: Những sản phẩm của các làng nghề truyền thống nhƣ gốm sứ, mây tre đan, dệt,… có độ thẩm mỹ cao, là kết quả đƣợc tạo nên từ những đôi bàn tay khéo léo của ngƣời thợ thủ công, là kết tinh tài hoa qua nhiều thế hệ.
Nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn phản ánh lối sống và ƣớc vọng của ngƣời lao động, mang đậm bản sắc và văn hóa Việt, góp phần bảo tồn và lƣu truyền nét đẹp văn hóa truyền thống của ông cha ta từ đời này sang đời khác. Tình hình phát triển của các làng nghề ở Việt Nam Việt Nam đƣợc mệnh danh là đất nƣớc của làng nghề, nơi hội tụ những tinh hoa văn hóa, văn nghệ dân gian đƣợc bồi đắp qua nhiều thế kỷ, sản sinh và lƣu giữ những giá trị có hàm lƣợng văn hóa, lịch sử tinh thần đặc sắc của dân tộc. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, những làng nghề, phố nghề 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vẫn tồn tại minh chứng cho sức sống mãnh liệt của mạch nguồn văn hóa kết tinh qua mấy nghìn năm. Bằng trí tuệ và đôi bàn tay tài hoa, các nghệ nhân ngƣời Việt đã bền bỉ gìn giữ và phát triển những làng nghề truyền thống, di sản văn hóa Việt Nam đồng hành cùng lịch sử dân tộc.
Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, tính đến nay, cả nƣớc có 5.411 làng nghề và làng có nghề với gần 2000 làng nghề, 400 làng nghề truyền thống, 53 nhóm nghề, 115 nghề truyền thống đã đƣợc công nhận [62]. Trong tổng số các làng nghề ƣớc tính có khoảng hơn 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau trong đó rất nhiều sản phẩm có lịch sử phát triển hàng trăm, hàng nghìn năm nhƣ: Tơ lụa Vạn Phúc, gỗ mỹ nghệ Sơn Đồng, đúc Huế, Yên, Mây Tre đan Phú Vinh, Gốm Sứ Bát Tràng, Khảm Chuôn Ngọ, Thổ cẩm Mai Châu, Dừa Bến Tre,… Các làng nghề tập trung 60% ở vùng đồng bằng sông Hồng, 23% ở khu vực miền trung và 17% ở khu vực miền nam; thu hút 11 triệu lao động, chiếm 30% lực lƣợng lao động nông thôn với số lao động qua đào tạo có chứng chỉ sơ cấp trở lên chiếm 12,3%. Trong thời kỳ mới, với mục tiêu phát triển bền vững đất nƣớc, làng nghề có vị trí và vai trò rất quan trọng. Cùng với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trƣởng, làng nghề nhận đƣợc sự quan tâm và chú trọng của Chính phủ.
Ngày 7-5-2018, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 490/QĐ-TTg về phê duyệt Chƣơng trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2018 - 2020. Theo đó, Chƣơng trình OCOP sẽ đƣợc tiến hành đồng bộ trên cả nƣớc nhằm phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hƣớng phát huy nội lực và gia tăng giá trị.