Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ MÔI TRƢỜNG VÀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG 1. Môi trƣờng Môi trường thường được hiểu là không gian sống của con người và các loài sinh vật, là nơi cung cấp tài nguyên, vật chất cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. Môi trường cũng là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
Khái niệm "môi trường" có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Môi trường theo nghĩa rộng là tổng hòa tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Theo nghĩa thông thường, môi trường được cho là "toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy" [32, tr. Môi trường cũng có thể là "tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế" [30].
Các khái niệm về môi trường như trên là khái niệm đã được mở rộng, không thể hiện tính pháp lý và khó đánh giá, nghiên cứu trong thực tiễn. Trong luận văn này, tác giả chỉ có ý định nghiên cứu môi trường trong phạm vi cụ thể hơn, có ý nghĩa thực tiễn và mang tính pháp lý chặt chẽ nhất. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Môi trường sử dụng trong khoa học pháp lý là một khái niệm được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được cho là những yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Môi trường có thể là "sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ" [44, tr.
Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường của Liên bang Nga [46] đưa ra hai khái niệm là "môi trường xung quanh" và "môi trường tự nhiên". Khái niệm "Môi trường xung quanh" được định nghĩa là tổng hợp các thành phần của môi trường tự nhiên, các vật chất tự nhiên, các vật chất bán tự nhiên và nhân tạo". Còn "môi trường tự nhiên" là tổng hợp các thành phần của môi trường tự nhiên, các vật chất tự nhiên, các vật chất bán tự nhiên". Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 đưa ra khái niệm "môi trường" như sau: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật" [20].
khái niệm pháp lý về môi trường nêu trên, môi trường gồm nhiều thành phần, bao gồm cả yếu tố tự nhiên như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác và những yếu tố vật chất do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người như: hệ thống đê điều, công trình nghệ thuật… thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa con người và tự nhiên. Khái niệm môi trường ảo vệ môi trường năm 2005 mang tính khách quan, có nội dung đầy đủ, cụ thể và là cơ sở để chúng ta nghiên cứu về các vấn đề môi trường liên quan trong phạm vi được nghiên cứu cũng như các vấn đề khác trong hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Môi trường hiện đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ đối với Việt Nam mà đối với nhiều quốc gia trên thế giới, dù đó là quốc gia đang phát triển hay quốc gia đã phát triển. Trong những năm vừa qua, ở Việt Nam đã phát hiện nhiều vụ việc tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật làm ô nhiễm môi trường làm cho môi trường có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những thay đổi đối với các yếu tố mang tính tự nhiên như nước, đất, không khí.
Ô nhiễm môi trƣờng Trong quá trình sản xuất, sinh hoạt con người có những hoạt động tương tác với môi trường và do cố ý hoặc bất cẩn có thể gây ra ô nhiễm môi trường (như thải chất thải chưa qua xử lý ra môi trường, tràn dầu trên biển, nổ nhà máy điện hạt nhân.) làm xuất hiện các chất hoặc yếu tố vật lý làm cho môi trường bị biến đổi hoặc trong các chất thải do con người thải ra môi trường có chứa chất tác động không tốt đến môi trường, làm cho chất lượng môi trường xấu đi, gây hại cho con người. Từ điển tiếng Việt định nghĩa "ô nhiễm" là "nhiễm bẩn tới mức có thể gây độc hại" [32, tr. Dưới góc độ sinh học, khái niệm "ô nhiễm môi trường" chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ số hóa học, lý học của môi trường bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi có ảnh hưởng đến đời sống của con người và sinh vật. Dưới góc độ kinh tế học, "ô nhiễm môi trường" là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hóa học, sinh học, mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe con người và sinh vật [28, tr.
"Ô nhiễm môi trường" cũng được cho là hiện tượng thay đổi tính chất của các thành phần môi trường (đất, nước, không khí…) theo hướng tiêu cực và vi phạm các tiêu chuẩn môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Ví dụ: đất bị nhiễm kim loại nặng, nước bị nhiễm axit, không khí bị nhiễm bụi,… vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường cho phép. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới góc độ pháp lý, "ô nhiễm môi trường" được cho là "sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật" [20, Điều 3]. Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường.
Điểm chung nhất giữa các khái niệm về ô nhiễm môi trường nêu trên là đều đề cập đến sự biến đổi của các thành phần môi trường (là các yếu tố tạo thành môi trường như: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái.) theo chiều hướng xấu, vượt quá ngưỡng (tiêu chuẩn) được quy định (tùy từng trường hợp sự vượt quá này có thể là thấp hơn hoặc cao hơn so với các tiêu chuẩn quy định), gây ảnh hưởng bất lợi cho con người và sinh vật. Sự biến đổi của các thành phần môi trường này có thể do biến đối bất thường của tự nhiên hoặc do hoạt động của con người làm phát lộ hoặc phát sinh chất gây ô nhiễm (là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm), nhưng phần lớn, sự biến đổi của các thành phần môi trường do hoạt động của con người gây ra. Trên thế giới, "ô nhiễm môi trường" cũng được hiểu là sự biến đổi của thành phần môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển bình thường của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Một số Công ước quốc tế tuy không đưa ra một khái niệm về "ô nhiễm môi trường" nói chung nhưng cũng đưa ra định nghĩa về "ô nhiễm" đối với từng thành phần môi trường cụ thể.
Công ước về ô nhiễm không khí xuyên quốc gia trên diện rộng năm 1979 định nghĩa ô nhiễm không khí bằng cách đề cập đến các ảnh hưởng có hại đối với các nguồn sống, hệ sinh thái, sức khỏe con người, tài sản vật chất, cũng như việc cản trở hưởng thụ hoặc sử dụng hợp pháp về môi trường (Điều 1 (a)) [34]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công ước về Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982 định nghĩa "ô nhiễm môi trường biển" là việc "con người đưa các chất hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, một cách trực tiếp hay gián tiếp gây ra hoặc sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt gây tác hại tới các nguồn sống và đời sống đại dương, gây nguy hiểm đối với sức khỏe con người, gây cản trở đối với các hoạt động trên biển kể cả việc khai thác hải sản và các hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác, gây hạn chế chất lượng sử dụng nước biển và làm suy giảm việc thưởng thức cảnh quan biển" [34]. Từ những phân tích trên có thể thấy "ô nhiễm môi trường" là hiện tượng thay đổi của các thành phần môi trường (đất, nước, không khí…) theo hướng tiêu cực, không phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật. Trong một số trường hợp "ô nhiễm môi trường" dẫn đến sự suy thoái môi trường khi mà hậu quả của sự ô nhiễm dẫn đến sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi về chất lượng và số lượng của các thành phần môi trường gây ra những thiệt hại cho con người.
Thiệt hại do ô nhiễm môi trƣờng Ô nhiễm môi trường có thể dẫn đến những thiệt hại cho con người và tự nhiên.Thiệt hại được hiểu là "bị tổn thất,, hư hao về người và của" [32, tr. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt hại là "tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ" [27, tr. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định tại Điều 307: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.