Mở đầu bài văn giới thiệu về tiếng khèn của người Mông. Sau đó đến phần triển khai lần lượt tả chi tiết các bộ phận của chiếc khèn: chất liệu khèn bằng gỗ, sáu ống trúc xếp song song. Quan hệ liên tưởng thấy rõ trong việc miêu tả ống trúc: “Nhìn và tưởng tượng thêm một chút thấy chúng như dòng nước đang trôi”. Ở đoạn tiếp theo của phần triển khai, tác giả nói đến ý 10 nghĩa của tiếng khèn: “gắn bó với người Mông mỗi khi lên nương, xuống chợ”, “tiếng khèn hoà với tiếng cười reo vang náo nức khắp làng bản mỗi độ xuân về”, “trở thành báu vật của người Mông xưa truyền lại cho các thế hệ sau”.
Phần kết thúc chốt lại tình cảm của tác giả với người nghệ nhân thổi khèn và âm thanh tiếng khèn giữa đời sống. Toàn bài văn là sự tổng hòa của các câu, các đoạn văn được sắp xếp theo một trật tự hợp lí, phản ánh đúng quan hệ logic của đối tượng được phản ánh (tiếng khèn) và những suy nghĩ, cảm xúc của tác giả (tiếng khèn hay, đặc trưng của quê hương vùng cao dân tộc Mông, tiếng khèn gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân, người nghệ nhân thổi khèn cùng tiếng khèn luôn tràn đầy sức sống). So sánh ví dụ 1 và ví dụ 2 ta thấy giữa chúng có một sự khác biệt rất lớn. Các câu ở ví dụ 1 rời rạc, không liên quan với nhau, trong khi đó, các câu ở ví dụ 2 có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Những mối liên hệ qua lại phức tạp ở trên tạo nên một mạng lưới gắn bó các câu tạo thành văn bản, mạng lưới các mối liên hệ giữa các câu trong một văn bản như thế gọi là tính liên kết của văn bản. Theo quan niệm về liên kết bắt đầu vào giữa những năm 70 và ngày càng trở nên phổ biến. Người đề xướng quan niệm này là hai tác giả M. Trên cứ liệu tiếng Anh, hai tác giả đã xem xét nhiều khía cạnh có liên quan đến liên kết và tập trung trình bày trong cuốn Cohesion in English (Liên kết trong tiếng Anh, in lần đầu năm 1976 và tái bản lần thứ 13 vào năm 1994).
Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Văn bản và liên kết trong tiếng Việt đã sử dụng khái niệm phi cấu trúc tính. Liên kết theo quan niệm này lấy nghĩa làm cơ sở nhưng chỉ được xem như là một khái niệm chuyên môn, không thuộc về cấu trúc của ngôn ngữ và chỉ các phương tiện hình thức của ngôn ngữ làm nhiệm vụ liên kết mới thuộc liên kết. Những yếu tố ngôn ngữ này tập hợp lại thành những hệ thống con cho người dùng lựa chọn. Với cách hiểu này, liên kết không giữ vai trò yếu tố quyết định cái “là văn bản” của sản phẩm ngôn ngữ.
Nhiệm vụ đó thuộc về mạch lạc (Coherence) hay tính văn bản (Textuality), hay chất văn bản 11 (Texture). Ở đây liên kết được xem là một loại quan hệ ngữ nghĩa (Semantic relation). Khi một yếu tố rõ nghĩa ở câu này có tác dụng giải thích nghĩa cho yếu tố chưa rõ nghĩa tương ứng với nó ở một câu khác thì có hiện tượng liên kết. Ví dụ: Long cố gắng làm mọi thứ khác anh, từ cách nói, dáng đi đến trang phục, kiểu tóc.
Còn anh cậu chẳng bận tâm đến chuyện đó. Anh em sinh đôi - [18, tr. 16] Yếu tố Long ở câu (1) là yếu tố rõ nghĩa, cậu ở câu (2) là yếu tố chưa rõ nghĩa và được giải thích bằng yếu tố Long. Yếu tố rõ nghĩa được gọi là yếu tố “được tiền giả định” (presupposed); yếu tố chưa rõ nghĩa được gọi là yếu tố “chứa tiền giả định” (presupposing).
Hai yếu tố này giải thích cho nhau và qua đó thực hiện chức năng liên kết hai câu với nhau. Mỗi lần xuất hiện của một cặp các yếu tố có quan hệ liên kết như vậy được gọi là một mối nối kết (Tie). Hai câu có thể chỉ có một mối liên kết (như ví dụ trên) nhưng cũng có thể gồm nhiều hiện tượng liên kết hơn. Liên kết theo nghĩa mà chúng ta đang dùng ở đây cũng không phải là hiện tượng của cấu trúc.
“Liên kết là một quan hệ nghĩa giữa một yếu tố trong văn bản và một vài yếu tố khác cần thiết (quan trọng) cho việc giải thích nó” [11, tr. Cái “yếu tố khác” ấy có thể tìm thấy trong hoặc ngoài văn bản. Nếu trong văn bản thì vị trí của nó cũng không bị ấn định bởi cấu trúc ngữ pháp mà bởi các yếu tố trong hệ thống từ vựng – ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể. Một cách khái quát về liên kết theo quan niệm này được hiểu như sau: “Ở đâu mà việc giải quyết một yếu tố bất kì trong diễn ngôn đòi hỏi phải quy chiếu về một yếu tố nào trong diễn ngôn ấy thì ở đó có liên kết” [3, tr.
Nói gọn hơn liên kết xuất hiện trong trường hợp “Một yếu tố được giải quyết bằng cách quy chiếu về một yếu tố khác” [3, tr. Liên kết theo quan niệm này đặt trên cơ sở nghĩa. Để giải quyết tốt nhiệm vụ của khóa luận, chúng tôi sử dụng quan niệm của M. Hasan, lấy nội dung của quan niệm này làm cơ sở lý thuyết 12 cho việc triển khai tìm hiểu: Phép liên kết từ vựng và phép liên kết thế trong các văn bản của sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”.
Phương tiện và phương thức liên kết trong tiếng Việt 1. Khái niệm Phương tiện liên kết là những yếu tố ngôn ngữ cụ thể được dùng trong việc nối kết câu với câu. Phương thức liên kết là cách sử dụng các phương tiện liên kết có cùng một thực chất (tạo thành một hệ thống con) vào việc liên kết câu với câu. Phương thức liên kết còn được gọi gọn hơn là phép liên kết.
Các phép liên kết trong tiếng Việt Theo cách hiểu của Halliday và Hasan thì các phép liên kết được phân chia như sau: - Phép quy chiếu, - Phép tỉnh lược, - Phép nối, - Phép liên kết từ vựng, - Phép thế. Trong phần này, chúng tôi xin phép được trình bày những nét khái quát nhất về nội dung lý thuyết của các phép liên kết trong tiếng Việt. Phép quy chiếu - Khái niệm: Tác giả Diệp Quang Ban đã quan niệm về phép quy chiếu: “Phép quy chiếu xuất phát từ yếu tố ngôn ngữ có nghĩa chưa cụ thể ở một câu nào đó cần được giải thích bằng yếu tố ngôn ngữ có nghĩa cụ thể ở câu khác, trên cơ sở đó hai câu liên kết với nhau” [5, tr. - Căn cứ vào các phương tiện ngôn ngữ dùng ở vị trí yếu tố có nghĩa chưa cụ thể, phép quy chiếu gồm có ba trường hợp sau đây: + Quy chiếu chỉ ngôi, 13 + Quy chiếu chỉ định, + Quy chiếu so sánh.
Sau đây, chúng tôi lấy một ví dụ về phép quy chiếu chỉ ngôi. Ví dụ: Đêm ấy, bên cửa sổ mở rộng, có tiếng thở nhẹ mơ hồ xen lẫn tiếng thì thầm: – Bạn thân mến! – Bụi hoa hồng khẽ nói. – Hơi thở của bạn làm tôi dễ chịu quá. Tiếng nói của cỏ cây - [18, tr.
44] Trong ví dụ này, từ tôi là đại từ chỉ ngôi (ngôi một số ít) và có nghĩa chưa cụ thể, phải tham khảo ở câu trước đó để biết tôi là bụi hoa hồng. Phép tỉnh lược - Khái niệm: Quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban về phép tỉnh lược: “Phép tỉnh lược là việc bỏ trống yếu tố lẽ ra phải có mặt (do đó mà tạo ra cái có nghĩa chưa cụ thể) ở câu này, và muốn hiểu chỗ bỏ trống thì phải tìm từ ngữ có nghĩa cụ thể tương ứng ở câu khác, và bằng cách đó hai câu này liên kết với nhau. Về thực chất phép tỉnh lược cũng là một cách thế, chỉ có điều là thế bằng dêrô” [5, tr. - Các phép tỉnh lược được sử dụng trong văn bản tiếng Việt: + Tỉnh lược danh từ (cụm danh từ), + Tỉnh lược động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ), + Tỉnh lược mệnh đề (kết cấu chủ - vị, cú).
Sau đây, chúng tôi lấy một ví dụ về phép tỉnh lược danh từ. Ví dụ: Nằm cuộn tròn trên chiếc chổi rơm đầu hè, cún nghĩ: “Ở cuối dãy phố có gì nhỉ?". Rồi tò mò (1) chuyển thành bực mình. Chân trời cuối phố - [18, tr.
59] Trong ví dụ trên, ở câu thứ hai và câu thứ ba, tại vị trí của yếu tố tỉnh lược (0), (1) có thể thêm từ “cún” vào vị trí tỉnh lược. Từ “cún” bị tỉnh lược đi trong ví dụ trên chính là hiện tượng tỉnh lược danh từ. Phép nối - Khái niệm: Tác giả Diệp Quang Ban có quan niệm về phép nối: “Phép nối là việc sử dụng tại vị trí đầu câu, hoặc trước vị ngữ (trước động từ ở vị ngữ) những từ ngữ có khả năng chỉ quan hệ để làm bộc lộ kiểu quan hệ giữa hai câu có quan hệ với nhau, và bằng cách đó liên kết hai câu này với nhau” [5, tr. - Các phép nối trong văn bản tiếng Việt: + Nối bằng quan hệ từ, + Nối bằng từ ngữ nối kết.
Sau đây, chúng tôi lấy một ví dụ về phép nối bằng quan hệ từ. Ví dụ: Tôi biết nơi đó có những chiếc xe sang trọng phóng vun vút trên đường nhựa phẳng lì. Nhưng nơi ấy thật xa lạ. Quê tôi ở đây, con đường làng gồ ghề, vàng óng rơm mùa gặt, những lùm cây giấu đầy quả ổi, quả mâm xôi chín mọng.
Trước ngày xa quê - [18, tr. 66] Từ nhưng trong câu thứ hai góp phần làm nổi bật mối quan hệ tương phản giữa câu thứ nhất đứng trước nó và câu thứ ba. Câu thứ nhất cho thấy sự hiện đại, tiện nghi của cuộc sống nơi thành phố, câu thứ ba lại cho người đọc thấy một làng quê mộc mạc, giản dị rất thân thuộc với nhân vật. Phép liên kết từ vựng a.
Khái niệm phép liên kết từ vựng Phép liên kết từ vựng đề cập tới vấn đề lựa chọn những từ ngữ có quan hệ như thế nào đó với những từ ngữ đã có trước, và trên cơ sở đó làm cho câu chứa từ ngữ có trước với từ ngữ mới được chọn này liên kết với nhau. Trong tác phẩm Liên kết trong tiếng Anh (1994), phép liên kết từ vựng gồm ba phép liên kết nhỏ như sau: - Phép lặp, - Phép dùng từ ngữ đồng nghĩa, từ gần nghĩa, từ trái nghĩa, - Phép phối hợp từ ngữ. Các phép liên kết từ vựng trong văn bản tiếng Việt b. Lặp từ ngữ 15 Theo tác giả Diệp Quang Ban [3, tr.