Chương 1: Tổng quan nghiên cứu phát triển hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm đồ jeans trẻ em của Công ty Cổ phần thời trang Jin Việt Nam trên địa bàn Hà Nội. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển hoạt động xúc tiến sản phẩm của công ty kinh doanh. Chương 3: Phân tích các kết quả nghiên cứu về thực trạng phát triển hoạt động xúc tiến sản phẩm đồ jeans trẻ em của Công ty Cổ phần thời trang Jin Việt Nam trên địa bàn Hà Nội. Chương 4: Các kết luận và đề xuất với vấn đề phát triển hoạt động xúc tiến sản phẩm đồ jeans trẻ em của công ty Cổ phần thời trang Jin Việt Nam trên địa bàn Hà Nội.
5 Luan van CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾNG CỦA CÔNG TY KINH DOANH 2. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2. Một số khái niệm. a) Xúc tiến thương mại.
Xúc tiến thương mại là thuật ngữ xuất hiện trong kinh tế học từ những năm đầu của thế kỷ 20 cùng với sự hình thành và phát triển của khái niệm marketing. XTTM gắn liền với hoạt động của thị trường và Marketing vì XTTM là một bộ phận không thể tách rời trong mô hình Marketing hỗn hợp (Marketing mix) của bất cứ doanh nghiệp nào, bất cứ nền kinh tế nào. Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về XTTM. Theo định nghĩa chung thì XTTM được hiểu là: “Bất kỳ nỗ lực nào từ phía người bán để thuyết phục người mua chấp nhận thông tin của người bán và lưu trữ nó dưới hình thức có thể phục hồi lại được”.
Xuất phất từ góc độ công ty, XTTM được hiểu một cách tổng hợp và cụ thể như sau: “XTTM là một lĩnh vực hoạt động Marketing đặc biệt và có chủ đích được định hướng vào việc chào hàng chiêu khách và xác lập một quan hệ thuận lợi nhất giữa công ty và bạn hàng của nó với tập khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm phối hợp và triển khai năng động chiến lược và chương trình Marketing - mix đã lựa chọn của công ty”. Còn theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa thì XTTM là “Một lĩnh vực cốt lõi của truyền thông Marketing nhằm mở rộng tư duy, hiểu biết của khách hàng về những lợi ích, ưu thế vượt trội và kích thích, thu hút các khách hàng tiềm năng thành tập khách hàng hiện thực và đẩy mạnh hiệu lực bán hàng, tăng cường chất lượng và tín nhiệm về hình ảnh thương mại của công ty trên thị trường mục tiêu.” – Trích (trang 438) Giáo trình marketing thương mại – GS.TS Nguyễn Bách Khoa, NXB Thống Kê Hà Nội 2011. Tóm lại, XTTM là một lĩnh vực hoạt động marketing đặc biệt và có chủ đích được định hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác lập một quan hệ thuận lợi nhất giữa công ty và bạn hàng của nó với tập khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm phối thuộc triển khai năng động chiến lược và chương trình marketing - mix để lựa chọn. 6 Luan van b) Phát triển hoạt động xúc tiến.
Để phát triển, cần phải xây dựng các hướng theo từng kế hoạch cụ thể, tuy nhiên, với sự thay đổi không ngừng của môi trường khiến cho các hoạt động có thể sai lệch so với kế hoạch, thêm vào đó, cần phải luôn kiểm soát và liên tục điều chỉnh nhằm đạt được hiệu quả tối ưu. Đó chính là công việc của phát triển hoạt động XTTM. Như vậy, nói một cách khái quát “Phát triển hoạt động XTTM là việc thiết lập, thay đổi, điều chỉnh các chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại của công ty so với hiện tại để thích ứng với sự thay đổi của môi trường và thị trường của sản phẩm, nhằm thực hiện hiệu quả các chiến lược và chương trình marketing-mix mà công ty đã lựa chọn”. Vai trò của xúc tiến thương mại trong marketing.
Nếu như sản phẩm là cơ bản, là xương sống, giá là yếu tố quan trọng và phân phối là yếu tố mang tính then chốt của hoạt động marketing - mix. Thì XTTM là yếu tố cốt lõi, thể hiện hiệu quả hoạt động marketing của công ty kinh doanh. Một sản phẩm dù có tốt đến mức nào, giá có rẻ hơn hay công ty tìm kiếm và thiết kế được trung gian phân phối tốt ra sao, mà thiếu đi việc giới thiệu thông tin về sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng, thì công ty đó không thể đạt được hiệu quả tối ưu hoạt động kinh doanh của mình. XTTM làm cho việc bán hàng dễ dàng và năng động hơn, đưa hàng vào kênh phân phối và quyết định lập các kênh phân phối hợp lý.
Qua hoạt động XTTM các nhà kinh doanh có thể tạo ra được những lợi thế về giá bán. Do vậy XTTM không phải chỉ là những chính sách biện pháp hỗ trợ cho các chính sách sản phẩm, giá và phân phối mà còn làm tăng cường kết quả thực hiện các chính sách đó. Mô hình XTTM tổng quát Thông điệp Công ty Mã hóa Giải mã Người thương mại nhận Kênh truyền thông Nhiễu cản trở Phản hồi Đáp ứng Hình 2.1 : Mô hình quá trình xúc tiến tổng quát ( Giáo trình Marketing thương mại trang 321, GS. Nguyễn Bách Khoa) Mô hình này bao gồm 4 nhóm nhân tố sau: Người gửi và người nhận: là đại diện cho đối tác truyền tin Người gửi: là công ty hoặc cá nhân nào đó có nhu cầu gửi tin cho khách hàng mục tiêu của họ Người nhận: là đối tượng nhận tin – thông điệp do người gửi truyền tới Thông điệp và kênh truyền thông: là biểu thị của công cụ truyền tin Thông điệp: là tập hợp các biểu tượng (nội dung tin) mà người gửi truyền Phương tiện truyền thông: là các kênh mà thông qua đó thông điệp được truyền từ người gửi đến người nhận.
Chức năng truyền tin: Mã hóa: Là tiến trình chuyển ý tưởng thành những hình thức có tính biểu tượng (thể hiện ý tưởng bằng một ngôn từ truyền thông nào đó). Giải mã: tiến trình mà theo đó người nhận xử lý thông điệp để nhận tin và tìm kiếm ý tưởng của người gửi. Đáp ứng: Là tập hợp các phản ứng mà người nhận có được sau khi tiếp nhận và xử lý thông điệp. Phản hồi: Là một phần của sự đáp ứng của người nhận được truyền ngược trở lại cho người nhận.
8 Luan van Nhiễu: Là tình trạng biến lệch ngoài dự kiến do môi trường quá trình truyền tin làm thông tin đến với người nhận không trung thực với thông điệp gửi đi. Một số lý thuyết của vấn đề phát triển hoạt động xúc tiến sản phẩm. Lý thuyết về phát triển hoạt động xúc tiến – Phillip Kotler. Theo Phillip Kotler, để thực hiện tốt quá trình truyền thông, cần phải xác định được năm câu hỏi là: ai, nói gì, trong kênh nào, cho ai, hiệu quả như thế nào.
Người Thông điệp gửi Mã hóa Giải mã Người Kênh nhận Tr. thông Nhiễu Liên hệ Phản ứng ngược đáp lại H. Mô hình quá trình truyền thông (Nguồn: Quản trị marketing – Phillip Kotler) Theo mô hình trên, để đạt được hiệu quả trong truyền thông, các công ty phải xác định được rõ muốn truyền thông cái gì từ đó mã hoá thành các thông điệp. Tuy nhiên, quá trình mã hoá và giải mã có thể khác nhau do sự tác động từ môi trường ngoài, do vậy cần liên tục kiểm tra phản ứng đáp lại của người nhận tin để đánh giá hiệu quả của hoạt động truyền thông nhằm làm gia tăng hiệu quả.
Theo như mô hình này, vấn đề đầu tiên doanh nghiệp cần phải xác định là xác định người nhận mục tiêu, những hành vi và môi trường xung quanh họ. Tiếp đến doanh nghiệp xác định mục tiêu truyền 9 Luan van thông, tức là những mong muốn về sự đáp lại của người nhận tin mục tiêu đối với hoạt động truyền thông của công ty. Sau đó, mã hoá mục tiêu đó thành những thông điệp cụ thể, thông điệp phải đảm bảo nội dung, bố cục, nội dung và hình thức sao cho có hiệu quả. Đồng thời lựa chọn cách thức truyền tải thông điệp đó tới đối tượng nhận tin mục tiêu một cách hợp lý và hiệu quả nhất.
Xác định một mức ngân sách dành cho hoạt động XTTM. Và cuối cùng là theo dõi phản ứng đáp lại của người nhận tin đối với thông điệp mà người gửi đã gửi. Lý thuyết về phát triển hoạt động xúc tiến – GS.TS Nguyễn Bách Khoa. Mô hình hoạch định chiến lược XTTM.
(Nguồn: Giáo trình marketing thương mại – GS.TS Nguyễn Bách Khoa) Từ mô hình này, hoạch định truyền thông marketing thương mại nêu những công việc cụ thể và rõ ràng đối với một chiến lược truyền thông marketing của công ty kinh doanh. Bắt nguồn từ việc nhận diện tập người nhận trọng điểm và đánh giá sự chấp nhận đối với một thương hiệu, một hình ảnh, hay một thông điệp của một chương trình XTTM của công ty. Tiếp theo đó là xác lập mục tiêu và mức ngân quỹ dành cho chúng, tiến hành quyết định thông điệp và kênh truyền thông điệp. Mã hoá thông điệp đó dưới dạng từ ngữ, hoặc hình ảnh cụ thể, và truyền tải thông điệp đó qua các kênh truyền thông một cách hiệu quả đến người nhận tin mục tiêu.
Tiếp đó, phải xác định được cách thức mà người nhận tin giải mã thông điệp đã được mã hoá và xem xét phản hồi từ phía người nhận tin. Cuối cùng là ghi nhận những đáp ứng và quyết định tổ chức kênh phản hồi để hoàn chỉnh một chu kỳ truyền thông.3 So sánh và kết luận 10 Luan van Về cơ bản, hai mô hình này đều có bản chất giống nhau, công việc đầu tiên của quá trình phát triển XTTM đều là xác định người nhận tin mục tiêu và có những đáp ứng nào, các thông tin và các phương tiện truyền tin, việc mã hóa và truyền thông điệp, giải mã, sau đó là những phản hồi. Sự khác biệt giữa hai mô hình này là: Mô hình biểu diễn các phần tử truyền thông của Phillip Kotler có tính tổng quát. Ngoài ra, mô hình còn nêu ra sự nhiễu tạp trong qua trình truyền thông.
Mô hình hoạch định chiến lược XTTM của GS.TS Nguyễn Bách Khoa nêu các bước thiết lập kế hoạch phát triển hoạt động XTTM của doanh nghiệp kinh doanh. Ngoài ra, do giới hạn nghiên cứu trong quy mô doanh nghiệp nên bài khóa luận này được nghiên cứu theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa. Phân định nội dung vấn đề phát triển hoạt động xúc tiến sản phẩm quần áo jeans kids của công ty cổ phần thời trang Jin Việt Nam. Quy trình thực hiện hoạt động xúc tiến sản phẩm 2.1 Xác định người nhận tin trọng điểm và lượng giá sự chấp nhận.