Chương 1: Tổng quan về phát triển hoạt động XTTM cho sản phẩm ván sàn gỗ công nghiệp của công ty TNHH một thành viên TM và XD nội thất Hoàng Dũng tại thị trường Hà Nội. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển hoạt động XTTM của công ty kinh doanh. Chương 3: Phân tích các kết quả nghiên cứu về thực trạng hoạt động XTTM cho sản phẩm ván sàn gỗ công nghiệp của công ty TNHH một thành viên TM và XD nội thất Hoàng Dũng tại thị trường Hà Nội Chương 4: Các kết luận và đề xuất về phát triển hoạt động XTTM cho sản phẩm ván sàn gỗ công của công ty TNHH một thành viên TM và XD nội thất Hoàng Dũng tại thị trường Hà Nội. Nguyễn Trường Trung – 45C3 7 Khoa Marketing Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Phùng Thị Thủy CHƯƠNG II: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI CỦA CÔNG TY KINH DOANH 2.
Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản liên quan đến XTTM 2. Khái niệm và bản chất của XTTM. Các khái niệm về XTTM: XTTM là một trong 4 biến số của marketing – mix, chiếm giữ một vai trò quan trọng trong chiến lược marketing của công ty kinh doanh. Đã có nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau vềXTTM: - Theo quan điểm của Philip Kotler:Trong quyển sách “ Quản trị marketing” NXB thống kê -2006, tác giả đã đi vào thiết kế chiến lược truyền thông và khuyến mại, quảng cáo.
Tác giả đi vào chi tiết từng công cụ và vấn đề làm thế nào để công cụ này đạt được hiệu quả nhất định. Nội dung này chỉ đúng và phù hợp nhất cho từng công cụ. trong quyển sách này tác giả cũng nêu rõ nhân tố ảnh hưởng ở góc độ tiếp cận là môi trường vĩ mô và vi mô. - Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa – TS.
Cao Tuấn Khanh: Trong giáo trình “Marketing thương mại” NXB thống kê - 2011 tác giả đề cập tới XTTM là một phối thức, và tác giả đưa ra những quyết định marketing trong XTTM. Quyển sách này tác giả đã nêu được ưu, nhược điểm của các công cụ XTTM, và nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động XTTM ở công ty kinh doanh, đó là: cặp sản phẩm - thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, cơ chế kéo đẩy. Theo sách này, XTTM được định nghĩa như sau: “XTTM là một lĩnh vực cốt lõi của truyền thông marketing nhằm mở rộng tư duy, sự hiểu biết của khách hàng về những lợi ích, ưu thế trội và kích thích, thu hút các khách hàng tiềm năng thành tập khách hàng hiện tại và đẩy mạnh hiêu lực bán hàng, tăng cường chất lượng và tín nhiệm hình ảnh thương mại của công ty trên thị trường mục tiêu”. Bản chất của XTTM: Bản chất các hoạt động XTTM là một quá trình giao tiếp, cung cấp thông tin và thuyết phục khách hàng trên thị trường mục tiêu của doanh nghiệp, được thực hiện thông qua hai đại diện: người chủ động và người tiếp nhận xúc tiến.
Việc cung cấp thông tin thuyết phục và giao tiếp có mối liên hệ qua lại hết sức chặt chẽ. Và đối tượng chỉ bị thuyết phục khi đã được cung cấp những thông tin thích hợp. Nhờ có quá trình giao tiếp, các thông tin về hàng hóa được chuyển từ doanh nghiệp đến các thị Nguyễn Trường Trung – 45C3 8 Khoa Marketing Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Phùng Thị Thủy trường mục tiêu và giúp người tiêu dùng hiểu rõ hơn về hàng hóa để đi đến quyết định mua hàng. Như vậy, có thể nói quá trình giao tiếp là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của hoạt động XTTM, là yếu tố thể hiện bản chất hoạt động XTTM.
Mô hình quá trình XTTM tổng quát. Để tổ chức hoạt động XTTMcó hiệu quả, cần phải hiểu quá trình XTTM diễn ra như thế nào,nắm được những yếu tố cơ bản của quá trình XTTM và mối quan hệ giữa chúng. Mối quan hệ trong quá trình truyền thông được diễn tả theo sơ đồ sau: Thông điệp Phương tiện truyền thông Người Mã Giải Người nhận gửi hoá mã Nhiễu Nhiễu Thông tin Phản ứng phản hồi đáp lại Hình 2.1: Mô hình XTTM tổng quát ( Trích nguồn: Sách Marketing thương mại – GS.TS Nguyễn Bách Khoa) Người gửi: là công ty, cá nhân , cơ quan, doanh nghiệp hoặc tổ chức có nhu cầu gửi thông tin cho khách hàng mục tiêu. Mã hoá: là tiến trình truyền ý tưởng và thông tin thành những hình thức có tính biểu tượng( quá trình thể hiện ý tưởng bằng một ngôn ngữ truyền thông nào đó).
Thông điệp: là tập hợp những biểu tượng(nội dung thông tin) mà chủ thể truyền đi. Phương tiện truyền thông: các kênh truyền thông mà qua đó thông điệp đi từ người gửi tới người nhận. Giải mã: là tiến trình mà người nhận xử lý thông điệp để nhận tin và tìm hiểu ý tưởng của người gửi truyền đi. Người nhận: là đối tượng nhận tin, nhận thông điệp do bên kia gửi tới.
Nguyễn Trường Trung – 45C3 9 Khoa Marketing Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Phùng Thị Thủy Phản ứng đáp lại:là những phản ứng mà người nhận có được sau khi tiếp nhận thông điệp. Thông tin phản hồi: một phần phản ứng của người nhận được truyền trở lại cho người gửi. Sự nhiễu tạp: tình trạng ồn hay biến lệch ngoài dự định trong quá trình truyền thông, thông điệp nhận được bị sai lệch so với ban đầu. Mô hình quá trình XTTM nhấn mạnh những yếu tố chủ yếu trong quá trình XTTM hữu hiệu.
Các công ty phải biết mình đang muốn hướng đến những khách hàng trọng điểm nào? và mong muốn nhận được những thông tin gì? Cần phải lựa chọn ngôn ngữ và mã hoá nội dung tin một cách khéo léo, doanh nghiệp phải nắm bắt được khuynh hướng giải mã của khách hàng đối với thông điệp. Doanh nghiệp phải lựa chọn kênh truyền thông hữu hiệu để có thể đạt tới vị trí của khách hàng mục tiêu, và doanh nghiệp cũng cần tổ chức triển khai những kênh phản hồi sao cho có thể biết được phản ứng của khách hàng đối với thông điệp xúc tiến của mình. Khái niệm và sự cần thiết phát triển hoạt động XTTM của công ty kinh doanh. Khái niệm về phát triển hoạt động XTTM: Qua các khái niệm về xúc tiến thương mại ở trên, em xin đưa ra khía niệm về phát triển hoạt động xúc tiến thương mại như sau: “Phát triển các hoạt động xúc tiến thương mại là quá trình tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện các chương trình xúc tiến thương mại trên cơ sở đã có của các công ty kinh doanh, hay chính là việc thay đổi về căn bản hoạt động XTTM đã có để có một chương trình XTTM hiệu quả hơn”.
Vai trò của việc phát triển hoạt động XTTM: Hoạt động XTTM giúp các doanh nghiệp có cơ hội phát triển các mối quan hệ với các doanh nghiệp khác và cả với khách hàng của mình. Thông qua các hoạt động XTTM, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu đối tác của mình, từ đó có thể tiến hành các giao dịch buôn bán với nhau. Hoạt động XTTM cũng chính là yếu tố giúp cung và cầu sản phẩm gặp nhau, khi doanh nghiệp tổ chức phối hợp tốt các công cụ XTTM sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều hàng hóa hơn, và một mặt sẽ giúp doanh nghiệp thay đổi cơ cấu tiêu dùng sao cho ngày càng phù hợp hơn với sự thay đổi của khoa học kỹ thuật. Nguyễn Trường Trung – 45C3 10 Khoa Marketing Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Phùng Thị Thủy Trên thị trường ngày nay, khi mà nhu cầu của khách hàng ngày càng cao thì doanh nghiệp ngoài việc hoàn thiện chính sách sản phẩm thì còn cần phải quan tâm phát triển hoạt động XTTM, sao cho hoạt động này phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng, tạo ra điểm khác biệt với đối thủ cạnh tranh.
Một số lý thuyết về hoạt động xúc tiến thương mại. Theo quan điểm của Philip Kotler. Quan điểm của Philip Kotler nghiên cứu về thiết kế chiến lược truyền thông và khuyến mãi, thiết kế các chương trình quảng cáo có hiệu quả và thiết kế các chương trình marketing trực tiếp kích thích tiêu thụ và quan hệ công chúng trong cuốn sách “Quản trị marketing” nhà xuất bản Thống kê năm 2006. Theo quan điểm của Philip Kotler về hệ thống truyền thông marketing bao gồm 5 công cụ chủ yếu: - Quảng cáo - Marketing trực tiếp - Kích thích tiêu thụ - Quan hệ công chúng và tuyên truyền - Bán hàng trực tiếp Trong đó, các bước của quá trình phát triển hệ thống truyền thông có hiệu quả bao gồm: - Phát hiện công chúng mục tiêu - Xác định mục tiêu tryền thông - Thiết kế thông điệp - Lựa chọn các kênh truyền thông - Xây dựng tổng ngân sách khuyến mãi - Quyết định về hệ thống khuyến mãi - Đo lường kết quả khyến mãi - Tổ chức quản lý truyền thông marketing tổng hợp 1.
Nguyễn Trường Trung – 45C3 11 Khoa Marketing Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Phùng Thị Thủy 2. Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa: Trong cuốn giáo trình Marketing thương mại của GS.TS Nguyễn Bách Khoa – nhà xuất bản Thống kê 2011, có nhắc đến mô hình kế hoạch hóa các hoạt động XTTM như sau: Quyết định người Quyết định nhận nội dung Quyết định thông điệp trọng mục tiêu điểm và lượng Quyết định Mã giá sự phối thức hóa chấp giao tiếp nhận hiện thời Quyết định Quyết ngân quỹ định chọn kênh truyền thông Đáp Nhận và Truyền Phản hồi tải thông ứng giải mã điệp Hình 2. Mô hình kế hoạch hóa các hoạt động XTTM ( Trích nguồn: Sách Marketing thương mại – GS.TS Nguyễn Bách Khoa) Từ biểu đồ trên cho thấy đặt ra hàng loạt vấn đề cần xử lý và giải quyết trong quá trình triển khai và thực hiện một chương trình XTTM ở các thời gian xác định như sau: - Tập người nhận - Các mục tiêu và ngân quỹ, triển khai các mục tiêu - Thông điệp và sáng tạo nội dung Nguyễn Trường Trung – 45C3 12 Khoa Marketing Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Phùng Thị Thủy - Người phát ngôn - Phương tiện truyền dẫn - Tiếp nhận, giải mã và đáp ứng phản hồi Toàn bộ những vấn đề này đòi hỏi nhà marketing của công ty phải nghiên cứu và có quyết định thích hợp. Để đạt được hiệu quả truyền thông, quá trình xúc tiến phải được vận hành như một hệ thống và đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.