CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG TRANH ẢNH PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ 4-5 TUỔI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về vốn từ cho trẻ khuyết tật trí tuệ Những năm gần đây việc giáo dục trẻ KTTT đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm về đối tượng trẻ KTTT cũng như vốn từ của trẻ KTTT. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Nghiên cứu về vốn từ của trẻ có tác giả Levelt (1989) đã cho rằng trẻ học một từ mới trẻ sẽ thiết lập một mối quan hệ. Công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học Nga như R.
đã khẳng định rằng: vốn từ của học sinh KTTT nghèo nàn hơn rất nhiều so với trẻ em bình thường cùng độ tuổi. Sự khác nhau giữa những từ tích cực và tiêu cực tồn tại ở trẻ em KTTT với mức độ đặc biệt lớn, trong đó từ tiêu cực chiếm đa số, từ tích cực rất hạn chế. Các em ít sử dụng tính từ, động từ và liên từ. Nghiên cứu về vốn từ của trẻ có Levelt, 1989 cho rằng khi trẻ học 1 từ mới trẻ sẽ thiết lập mối quan hệ giữa từ đó với nét nghĩa gắn với sự vật đó và đồng thời thiết lập mối quan hệ với từ khác bằng nét nghĩa tương ứng và nét nghĩa không tương ứng [11] Tại Việt Nam tiêu biểu có nghiên cứu về vốn từ tác giả Đinh Hồng Thái đã nghiên cứu và chỉ ra những đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ em lứa tuổi mầm non, nhiệm vụ hình thành vốn từ, nội dung và một số biện pháp phát triển vốn từ của trẻ [6] Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã chỉ ra những khía cạnh khác nhau về vốn từ của trẻ bình thường và trẻ KTTT, trong đó tập trung vào vào một số nội dung như: Đặc điểm vốn từ của trẻ KTTT, Các biểu tượng mối quan hệ của từ vựng ở trẻ và các nghiên cứu về vốn vờ còn khá hạn chế.
Nếu được nghiên cứu sâu đề tài sẽ góp phần không nhỏ vào quá trình chăm sóc, giáo dục nâng cao chất lượng cuộc sống cho KTTT. Tổng quan nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ khuyết tật trí tuệ Trên thế giới có công trình nghiên cứu của Clack (1993) về các biểu tượng từ vựng ở trẻ. Ông cho rằng khi có một từ nào đó trong đầu thì sẽ diễn ra những biểu trưng, hình ảnh về từ đó, cỏ bản chất khác nhau nhưng liên kết với nhau. Về quá trình lĩnh hội từ vựng có thể kể đến Marchman & Bates (1994) ông nghiên cứu các giai đoạn phát triển từ vựng của trẻ (18-30 tháng).
Hai tác giả cho rằng, giai đoạn bùng nổ từ vựng diễn ra khi trong vốn từ của trẻ đã có 150 từ. Các tác giả cũng chỉ ra nhịp lĩnh hội từ vựng của trẻ ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau, và có sự khác biệt rất lớn giữa các cá thể. Trong giai đoạn tiền học đường sự lĩnh hội từ vùng chậm hơn giai đoạn bùng nổ nhưng trẻ tiếp tục làm giàu và cụ thể hóa vốn từ. Vai trò quan trọng của người lớn và việc cùng trẻ đọc sách truyện.
Pence & Justice (2008) đưa ra 4 giai đoạn phát triển về sự hiểu biết của từ: “không có hiểu biết gì cả, bắt đầu có 1 chút hiểu biết, hiểu biết theo tình huống, hiểu biết trọn vẹn" Tại Việt Nam tiêu biểu có luận án tiến sỹ của Lưu Thị Lan chỉ ra các mốc phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 0-6 tuổi. Trong luận án này tác giả đã đưa ra những bước phát triển từ vựng ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam, các đặc điểm của sự phát triển vốn từ như: sự phát triển về số lượng từ, khả năng nắm bắt các từ loại, khả năng nắm bắt nghĩa của từ [4]. Luận văn thạc sỹ với đề tài “Một số biện pháp phát triển vốn từ tượng hình cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với truyện cổ dân gian Việt Nam" của tác giả Tống Thị Khánh An (2010) ,phân tích khá sâu sắc và đầy đủ cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài trên 4 phương diện cơ bản gồm: Cơ sở tâm - sinh lý, giáo dục học; cơ sở ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ mẫu giáo độ tuổi 5 – 6. Tác giả Khánh An cũng đã chỉ ra văn học dân gian Việt Nam được coi là phương tiện truyền tải và phát triển vốn từ nói chung, vốn từ tượng hình nói riêng rất hữu hiệu và hấp dẫn đối với trẻ bậc học mầm non trong đó có trẻ 5 - 6 tuổi [1] Năm 2017, tác giả Vũ Thị Ninh với đề tài “Phát triển vốn từ cho trẻ khuyết tật trí tuệ 4-5 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện”.
Đề tài đề xuất các biện pháp 6 phát triển vốn từ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện và thực nghiệp các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ KTTT [5]. Tổng quan nghiên cứu sử dụng tranh ảnh phát triển vốn từ cho trẻ khuyết tật trí tuệ Tác giả Lưu Thị Lan cho rằng ở lứa tuổi mẫu giáo chúng ta nên kể chuyện, đọc truyện, sử dụng tranh ảnh minh họa cho trẻ. Khi trẻ được nghe, xem và kể lại câu chuyện hoặc xem các tranh minh họa, trẻ không chỉ học được cách đặt câu đúng ngữ pháp, biết sử dụng từ đúng mà còn biết suy luận logic. Các tranh vẽ sẽ giúp trẻ hiểu nội dung câu chuyện 1 cách dễ dàng, làm cho các khái niệm trở nên sinh động, rõ ràng hơn, khắc sâu hành động cơ bản vào trí nhớ.
Trẻ dễ dàng ghi nhớ các câu nói có hình ảnh, các câu thơ có vần điệu hấp dẫn. Qua đó giúp trẻ hiểu nghĩa của từ tốt hơn và làm giàu vốn từ cho trẻ [4] Năm 2018, Tác giả Phạm Thị Tú với đề tài “Sử dụng tranh để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ tại trường mần non”. Đề tài đề cập tìm ra các biện pháp phát triển vốn từ qua tranh cho trẻ mẫu giáo để giúp trẻ có được lượng từ phong phú Các nghiên cứu về sử dụng tranh ảnh phát triển vốn từ mới chỉ tập trung với trẻ bình thường với trẻ KTTT ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam còn rất hạn chế. Vì vậy nếu được nghiên cứu sâu đề tài sẽ góp phần không nhỏ vào quá trình chăm sóc, giáo dục nâng cao chất lượng cuộc sống cho KTTT.
Trẻ khuyết tật trí tuệ 1. Khái niệm trẻ khuyết tật trí tuệ Có rất nhiều khái niệm về KTTT, nhưng trong đề tài này tôi sử dụng theo khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay ở Việt Nam là Theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối loạn tâm thần, phiên bản 5, (DSM -5) làm khái niệm công cụ: KTTT là một dạng rối loạn phát triển khởi phát trong quá trình phát triển và tồn tại suốt đời bao gồm cả hạn chế chức năng trí tuệ và thích ứng trong lĩnh vực nhận thức, xã hội và độc lập. KTTT bao gồm 3 tiêu chí sau: 1. Hạn chế trong các chức năng trí tuệ, chẳng hạn như: lý luận, giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, tư duy trừu tượng, phán đoán, học tập.
Các chức năng trí tuệ 7 này được xác định từ việc đánh giá lâm sàng và kiểm tra chỉ số thông minh (IQ) trên từng cá nhân. Hạn chế về các hành vi thích ứng dẫn đến thất bại trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển về văn hoá xã hội, độc lập cá nhân và trách nhiệm xã hội. Nếu không có sự hỗ trợ, gặp khó khăn trong một hoặc nhiều các hoạt động của cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn như thông tin liên lạc, tham gia các hoạt động xã hội, sống tự lập ở nhiều môi trường khác nhau như tại gia đình, trường học và cộng đồng. Những thiếu hụt về trí tuệ và khả năng thích ứng khởi phát ở thời kỳ phát triển.
Như vậy, theo phân loại DSM-5, xác định KTTT có 3 tiêu chí cơ bản sau: 1. Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình. Hạn chế ít nhất 2 lĩnh vực hành vi thích ứng 3. Các triệu chứng khởi phát trong giai đoạn phát triển Với đề tài này chúng tôi hiểu khái niệm KTTT là: KTTT là một dạng tật có đặc điểm bị hạn chế trong việc tiếp thu, khả năng thực hiện chức năng trí tuệ của một cá nhân so với các thành viên khác trong xã hội, khó khăn trong các kĩ năng thích nghi.
Đặc điểm tâm lý của trẻ khuyết tật trí tuệ 4-5 tuổi Nghiên cứu của các tác giả Đỗ Thị Thao-Kirstin Lee Bostelman- Nguyễn Nữ Tâm An đưa ra các đặc điểm phát triển của trẻ KTTT như: Đặc điểm cảm giác- trị giác: Nhiều trẻ có thể gặp 1 số vấn đề về thị giác hoặc thính giác (trẻ Down lác mắt, cận thị viêm tai giữa,. Trẻ thường phản ứng chậm chạp dẫn đến phối hợp các giác quan kém linh hoạt.Trẻ có thể có ngưỡng cảm giác bất thường (quả cao hoặc quá thấp), về cảm giác tiến đình: khả năng giữ thăng bằng kém, định hưởng không gian ít phát triển.Quá trình trị giác của trẻ diễn ra chậm: trẻ KTTT tri giác chậm hơn trẻ em bình thường, trong cùng 1 thời gian thì lượng thông tin trẻ KTTT thu được chính bằng 40% so với trẻ thường Khả năng trẻ giác thường kém phát triển: khả năng phân biệt và khả năng trị giác tổng thể kém phân biệt thị giác: trẻ khó khăn trong việc phân biệt các đối tượng có đặc điểm bên ngoài gần giống nhau .Phân biệt thính giác: trẻ khó khăn khi phân 8 biệt các âm thanh gần giống nhau hay các từ đồng âm.Động cơ tri giác của trẻ thiếu tích cực: không xem xét kỹ các chi tiết , nội dung cần tri giác [7]. Đặc điểm trí nhớ: Trẻ KTTT thưởng lâu nhớ, mau quên, tái hiện không chính xác. Khả năng ghi nhớ máy móc tốt hơn là ghi nhớ có ý nghĩa (thường học vẹt, không hiểu ý nghĩa, bản chất của sự vật sự việc, chỉ quan tâm tới dấu hiệu bề ngoài).
Ví dụ: trẻ sẽ nhầm con bò và con ngựa vì chúng đều có 4 chân và 1 số đặc điểm bề ngoài giống nhau .Những hạn chế trong quá trình trị giác và tư duy nên trẻ KTTT gặp khó khăn trong việc tìm ra những dấu hiệu bản chất của sự vật, sự việc cần ghi nhớ, đặc biệt ghi nhớ kiến thức trong học tập. Các dạng trí nhớ của trẻ kém phát triển, đặc biệt là trí nhớ ngôn ngữ.