Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 -5 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHỦ ĐỀ THẾ GIỚI THỰC VẬT.1 Cơ sở sinh lý của trẻ mẫu giáo Ngôn ngữ là một chức năng cao cấp của não người dựa trên cấu trúc của võ não, đặc biệt là vùng Broca (vùng tiếng nói) vùng Vecnich nằm ở thùy thái dương nó là trung tâm của vùng tiếp thi ngôn ngữ của con người. Đây là hai vùng có điều kiện lĩnh hội đầu tiên của ngôn ngữ. Để đảm bảo cho hoạt động ngôn ngữ được thực hiện đòi hỏi phải có sự tham gia của các tế bào não từ các khối: + Khối năng lượng đảm bảo trương lực và độ tỉnh táo nhất định. + Khối thông tin đảm bảo việc thu nhận và xử lí thông tin.
+ Khốiđiều khiển đảm bảo việc chương trinh hóa, điều chỉnh kiểm tra. Các khối này liên kết chặt chẽ với nhau, cùng tham gia thực hiện hoạt dộng ngôn ngữ cũng như các các hoạt động tâm lí khác của con người. Điều này muốn nói rằng mỗi khi con người tham gia vào hoạt động ngôn ngữ (nói, viết, nghe, hiểu) thì kéo theo sự tham gia hoạt động của hàng loạt hệ thống chức năng thần kinh chứ không riêng gì trung tâm Broca và Vecsnich (Phạm Minh Hạc- Lê Khanh- Trần trọng Thủy: TLH 1. Phát triển hài hòa ngôn ngữ đòi hỏi trước hết sự toàn vẹn về giải phẩu và chức năng các cơ quan tham gia vào việc thực hiện và tiếp thu ngôn ngữ.
Muốn nói được conngười phải có bộ máy phát âm tốt và được rèn luyện đúng mức. Bộ máy pháp âm là cơ quan tạo ra sự cấu âm để phát âm. Bộ máy phát âm gồm các cơ quan hô hấp, thanhquản, khoang miệng, khoang mũi. Muốn nói được thì phải nghe xem người khác nói như thế nào.
Nếu trẻ điếc thì không thể nói được, do đó cơ quan thính giác cũng là một cơ quan rất quan trọng đóng góp lớn vào quá trình xây dựng kỹ năng ngôn ngữ. Vì vậy chú ý rèn SV: Hoàng Hồng Hạnh – K20B 7 luyện và bảo vệ thính giác cho các cháu, nhằm phát triển khả năng tinh nhạy. Điều đó có tác dụng nhất đinh đến việc học nói của các cháu. Ngôn ngữ chỉ đặc trưng cho người vì tiếng nói đối với con người có một giá trị tín hiệu mà các con vật khác không thu nhận được.
Con vật chỉ phản ánh lại ngôn ngữ với những tính chất vật lý của nó mà không thể phản ứng với nội dung, khái niệm chứa trong ngôn ngữ. Ngôn ngữ còn là tín hiệu của tín hiệu. So với hệ thống tín hiệu thứ nhất thì hệ thống tín hiệu thứ hai có đặc điểm nổi bật là có khả năng trừu tượng hóa và khái quát hóa các sự vật và hiện tượng xảy ra ở thế giới bên ngoài cũng như ở bên trong cơ thể chúng ta. Vì vậy, hệ thống tín hiệu thứ hai là cơ sở của tư tuy ở người.
Ở người, hai hệ thống tín hiệu có liên quan chặt chẽ với nhau, trong đó hệ thống tín hiệu thứ 2 chiếm ưu thế. Hệ thống tín hiệu thứ 2 được xây dựng trên cơ sở hệ thống tín hiệu thứ nhất và nó ảnh hưởng trở lại với hệ thống tín hiệu thứ nhất. Vì vậy muốn nhận thức đầy đủ hiện thực khách quan chỉ bằng cách tác động qua lại chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai. Trong chăm sóc và giáo dục trẻ em, muốn đạt hiệu quả cao cần phải kết hợp chặt chẽ giữa lời nói với các biểu tượng trực quan.
Trong những năm đầu của trẻ diễn ra sự hình thành và phát triển của hệ thống tín hiệu thứ hai. Giai đoạn trước 3 tuổi là giai đoạn tối ưu cho sự hình thành ngôn ngữ của trẻ. Khi trẻ được từ 3-5 tuổi, phản xạ định hướng đóng vai trò quan trọng. Hệ thống tín hiệu thứ hai đóng vai trò ưu thế.
Trẻ có thể giao tiếp với những người xung quanh bằng ngôn ngữ nhờ sự giúp đỡ của người lớn. Dần dần vốn từ của trẻ được tăng lên một cách nhanh chóng. Đến 3 tuổi vốn từ của trẻ khá phong phú, có thể đạt tới 1000 từ và sự phát âm của trẻ tương đối chính xác. Đặc biệt đối với trẻ 4-5 tuổi, các phản xạ có điều kiện khi được củng cố bằng kích thích ngôn ngữ và kích thích tự vệ thì hình thành dễ dàng hơn so với củng cố bằng thức ăn.
Trẻ 4 tuổi ngôn ngữ của chúng phát triển phong phú vì có thêm các từ mới, trẻ đã nói đúng ngữ pháp hơn SV: Hoàng Hồng Hạnh – K20B 8 Từ những đặc điểm sinh lý trên, GV cần nắm rõ và tổ chức cho trẻ tham gia nhiều các hoạt động và đặc biệt là các hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ. Một trong các hoạt động mang lại hiệu quả cao đối với sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ đó là hoạt động khám phá MTXQ. Vì vậy trong các khâu tổ chức hoạt động này, GV cần phối kết hợp vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức. Đặc biệt phải kể đến đó là phương pháp trực quan và phương pháp dùng lời.
GV biết cách sử dụng linh hoạt sáng tạo thì mới có thể giúp trẻ tiếp thu kiến thức về thế giới xung quanh và phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất. Đặc điểm sinh lý của trẻ 4 -5 tuổi Ở trẻ mẫu giáo nhỡ, sự phát triển cuả cơ thể diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước. Về số lượng, chiều cao trung bình hàng năm tăng được từ 5 - 8cm, về cân nặng tăng khoảng từ 1 - 1,5kg. Đồng thời trẻ có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng thể chất: - Hệ tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hóa được tăng cường, sự hấp thụ thức ăn ngày càng tốt hơn.
- Hệ xương hoàn thiện dần, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ quan điều khiển vận động được tăng cường… Do vậy, trẻ có thể tiến hành hoạt động đòi hỏi sự khéo léo của tay, chân, than. Cơ quan phát âm của trẻ đang dần được hoàn thiện: Thanh quản gồm các sụn phổi, sụn nhẵn và sụn thanh nhiệt. Bên trong thanh quản có lót một lớp niêm mạc, trên bề mặt lớp niêm mạc ở mỗi bên có hai nếp gấp, đó là các dây thanh âm, giữa hai bên thanh âm có một cái rãnh lõm xuống gọi là buồng dây thanh quản. Dây thanh âm ở dưới gọi là dây nói, dây thanh âm giả ở trên đó là dây chủ yếu để thở.
Trẻ 4-5 tuổi dây thanh quản ngắn nên trẻ có giọng nói cao hơn giọng nói của người lớn. Các khoang cộng hưởng phần trên của thanh quản, họng, khoang miệng, mũi khá hoàn thiện, thể hiện ở các liên kết giữa các âm sắc của trẻ. Dựa trên những đặc điểm nêu trên, ta có thể thấy rõ được mức độ phát triển của trẻ mẫu giáo nhỡ là rất mạnh mẽ nhưng còn nhiều chỗ chưa hoàn thiện. Đặc biệt là bộ máy phát âm đang được hoàn thiện.
SV: Hoàng Hồng Hạnh – K20B 9 1.3 Cơ sở tâm lý của trẻ 4 – 5 tuổi • Hoàn thiện hoạt động vui chơi và hình thành “xã hội trẻ em” - Trẻ mẫu giáo nhỡ đang hoàn thiện hoạt động vui chơi và hình thành “xã hội trẻ em”. Có thể thấy rằng hoạt động vui chơi ở trẻ mẫu giáo nhỡ thể hiện tính tự lực, tự do và chủ động. Trong quá trình vui chơi trẻ bộc lộ toàn bộ tâm trí của mình, nhận thức, tình cảm, ý chí, nói năng đều tỏ ra tích cực và chủ động thể hiện tính tự lực, tự do rõ ràng, ít lệ thuộc vào người lớn và hoàn toàn tùy thuộc vào ý chí của mình. Tính tự lực, tự do của trẻ biểu hiện trong việc lựa chọn các bạn cùng chơi, trong việc tự do tham gia vào trò chơi mà mình thích và tự do rút ra khỏi trò chơi mà mình đã chán.
- Trong hoạt động vui chơi, trẻ mẫu giáo nhỡ đã thiết lập những quan hệ rộng rãi và phong phú với các bạn cùng chơi. Một “xã hội trẻ em” được hình thành. - Hoạt động vui chơi đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề là loại hoạt động cùng nhau đầu tiên của trẻ. Không có sự phối hợp với nhau giữa các trò chơi thì không phải là trò chơi.
Việc chơi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã tương đối thành thạo và chơi với nhau trong nhóm bạn bè đã trở thành nhu cầu bức thiết, vì khi chơi phải có vai nọ vai kia mới thú vị. Như vậy, các quan hệ trò chơi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã được mở rộng, trẻ còn biết liên kết các trò chơi theo các chủ đề khác nhau làm cho mối quan hệ trở nên phong phú hơn. Trẻ bắt đầu nghe ý kiến của bạn cùng trang lứa và đồng ý với ý kiến của đa số mặc dù có xuất hiện mâu thuẫn. - Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ.
Do đó, người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ mẫu giáo cũng như ở gia đình, khu dân cư để tạo ra một môi trường lành mạnh, có tính chất giáo dục mang tính tích cực đối với trẻ. • Sự phát triển chú ý, ngôn ngữ - Cả hai dạng chú ý có chủ định và không chủ định đều phát triển mạnh ở trẻ 4 – 5 tuổi. Nhiều phẩm chất chú ý có chủ định phát triển nhanh do sự phát triển tư duy và ngôn ngữ, sức tập trung chú ý của trẻ cao hơn. Khi giao việc cho trẻ cần SV: Hoàng Hồng Hạnh – K20B 10 chọn và giao những việc mà trẻ thích làm để tăng sự chú ý và hứng thú của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ tìm tòi, sáng tạo.
- Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống nghĩa là ngôn ngữ của trẻ gắn liền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra trước mặt trẻ. Đến cuối năm 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ bắt đầu biết nối tiếp giữa tình huống giữa hiện tại với quá khứ thành một “văn cảnh”. Vốn từ của trẻ tăng lên về số lượng khá đáng kể, trẻ đã lĩnh hội được cấu trúc ngữ pháp đơn giản. Trẻ hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết.
• Sự phát triển quá trình nhận thức - Về tri giác: do tiếp xúc với nhiều đồ vật, hiện tượng, con người độ nhạy cảm phân biệt các dấu hiệu thuộc tính bên ngoài của chúng ngày càng chính xác và đầy đủ.