CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA TỔ CHỨC “Tổ chức tự nó có một chất lượng không thể quan sát được - nó thể hiện một phong cách, một tính cách, một cách thức nhất định nào đó trong việc giải quyết các vấn đề - điều này có thể mạnh mẽ và mãnh liệt hơn rất nhiều so với những mệnh lệnh của bất kỳ cá nhân hoặc bất kỳ một hệ thống chính thức nào. Để hiểu linh hồn của một tổ chức đòi hỏi chúng ta phải đi sâu, vượt qua các sơ đồ tổ chức, các tài liệu về luật lệ của tổ chức, các qui trình để tới một thế giới ngầm của văn hóa tổ chức” 1. KHÁI NIỆM VĂN HÓA TỔ CHỨC 1. Cách tiếp cận khái niệm văn hóa tổ chức Có nhiều cách tiếp cận khái niệm này.
Cách tiếp cận khái niệm về văn hóa tổ chức có quan hệ mật thiết đến việc nghiên cứu và định nghĩa nó. • Cách tiếp cận cổ điển trong việc mô tả văn hóa tổ chức của Wilkins và Patterson (1985): Phương pháp này dựa trên giả định làm thay đổi các trạng thái cân bằng nhưng không ổn định; Trạng thái cân bằng của văn hóa được xem là trạng thái tự nhiên và mong đợi của tổ chức. Như vậy, văn hóa tổ chức được diễn đạt như là một trạng thái riêng biệt, chịu ảnh hưởng bởi tác động của môi trường bên ngoài. Theo quan điểm này văn hóa tổ chức được cụ thể hóa và trở thành 1 vấn đề có thể được xem xét, phân tích, thay đổi.
• Hệ quan điểm hiện đại hơn cho rằng, một tổ chức luôn tồn tại ở trạng thái không cân bằng. Với quan điểm này văn hóa của một tổ chức được xem là một quá trình chứ không phải đơn thuần là một trạng thái. Các quan điểm quản trị hiện đại đề cập đến xu hướng mới trong phân tích văn hóa. Nó nhấn mạnh cách tiếp cận bản chất văn hóa tổ chức được xem xét thông qua 1 Kilmann, R.
(April 1985), Corporate culture, Psychology Today, Tr. 5 các kết quả đạt được trong thảo luận và thương lượng giữa các thành viên tổ chức” 2. Điểm chung nhất của các quan điểm này chính là nghiên cứu văn hóa tổ chức thông qua việc “phân tích yếu tố tác động từ bên ngoài kết hợp với việc điều tra yếu tố bên trong tổ chức” 3. Rõ ràng điểm khác biệt chủ yếu giữa 2 cách tiếp cận là: Mô hình cổ điển khẳng định văn hóa tổ chức phụ thuộc bởi sự thay đổi từ bên ngoài; trong khi mô hình quản trị hiện đại thì chú trọng cả hai (điều tra bên ngoài kết hợp với đặc trưng bên trong của tổ chức).
Ngoài ra, các nghiên cứu theo xu hướng hiện đại còn chỉ ra mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức đến việc thực hiện nhiệm vụ và sự thành công của tổ chức. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chọn cách tiếp cận khái niệm Văn hóa, Văn hóa tổ chức là một quá trình với cả 2 góc độ bên ngoài và bên trong. Khái niệm văn hóa tổ chức 1. Khái niệm về văn hóa Trong đời sống tự nhiên và xã hội của loài người, văn hóa tồn tại dưới nhiều dạng nhận thức khác nhau, việc xác định thuật ngữ văn hóa thật không đơn giản.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Sở dĩ như vậy vì khái niệm văn hóa được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực trong xã hội với nội hàm không giống nhau. Từ năm 1952, hai nhà nhân học văn hóa người Mỹ là A. Kluckhohn trong Tổng luận các quan điểm và định nghĩa văn hóa đã thống kê có hơn 150 định nghĩa khác nhau.
Nhưng nhìn chung, số đông học giả đều nhìn nhận văn hóa là tri thức, là lối sống, là lối ứng xử mà con người học tập được trong suốt quá trình từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành để trở thành thành viên trong một xã hội, trong một tổ chức. Eduard Burnett Tylor, nhà xã hội học về văn hóa của nước Anh cuối thế kỷ XIX định nghĩa một cách khá tổng hợp: “Văn hóa là một chỉnh thể phức hợp bao gồm toàn bộ những tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, 2 Richard Seel (2000), Culture and Complexity: New Insights on Organisational chance, and Culture and Complexity - Organisations & People, Vol. 2, page 2-9 (Also at www.uk/culture- complex. 3 Richard Seel (2001), Describing Culture: From Diagnosis to Inquiry 6 những khả năng và tập quán khác nhau mà con người cần hướng đến với tư cách là một thành viên xã hội” 4.
Tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đưa ra một định nghĩa được nhiều quốc gia thừa nhận và ứng dụng: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại … hình thành một hệ thống các giá trị, truyền thống và thị hiếu. Văn hóa đó xác định đặc trưng riêng của từng dân tộc” 5. Với quan niệm xem văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, khái niệm văn hóa được mở rộng hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn” 6. Như vậy, văn hóa không phải là một lĩnh vực “độc lập”, mà là một tổng thể hài hòa bao gồm nhiều lĩnh vực có liên quan mật thiết nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất thể hiện những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của một cộng đồng người trong quá trình lâu dài để phát triển xã hội. Khái niệm về văn hóa tổ chức.
Trong thực tiển,“Văn hóa tổ chức” được diễn đạt và hiểu theo nhiều cách khác nhau và thường được đúc kết trình bày ở dạng khái niệm. Phần dưới đây sẽ trình bày một số khái niệm tiêu biểu về “Văn hóa tổ chức”. Một số khái niệm tiêu biểu của các học giả phương tây: • Văn hóa của một tổ chức là cách tư duy và hành động hàng ngày của các thành viên. Đó là điều mà các thành viên phải học và ít nhiều phải tuân theo để được 4 Tylor E.
(2000), Primitive culture – Văn hoùa nguyeân thuûy,. Nxb VH&TT, Haø Nội. 5 Thoâng tin UNESCO, số thaùng 1/1988. 6 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Haø Nội, 2000, tập 3, trang 431.
7 chấp nhận trong tổ chức đó. Văn hóa theo nghĩa này bao gồm một loạt các hành vi ứng xử, cách thức điều hành, kỹ năng, kiến thức kỹ thuật, quan điểm về kỷ luật, các thông lệ và thói quen quản lý, các mục tiêu của những người liên quan, cách kinh doanh, cách trả lương, quan điểm về các công việc, niềm tin vào tính dân chủ trong các buổi thảo luận và những qui ước, điều cấm kỵ (theo Jaques, 1952). • Nói đến văn hóa của một tổ chức là nói đến một hình thể duy nhất với các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối xử… được thể hiện qua việc các thành viên liên kết với nhau để làm việc. Nét đặc biệt của một tổ chức cụ thể nào đó được thể hiện ở lịch sử của nó với những ảnh hưởng của hệ thống cũ, lãnh đạo cũ trong việc xây dựng con người.
Điều này được chứng tỏ ở sự khác nhau giữa việc đi theo thói quen và luật lệ, hệ tư tưởng cũ và mới, cũng như những sự lựa chọn chiến lược của toàn tổ chức (theo Eldrige và Crombie, 1974). • Văn hóa tổ chức có thể được mô tả như một tập hợp chung các niềm tin, thông lệ, hệ thống giá trị, qui chuẩn hành vi ứng xử và cách kinh doanh riêng của từng tổ chức. Những mặt trên sẽ qui định mô hình hoạt động riêng của tổ chức và cách ứng xử của các thành viên trong tổ chức đó (theo Tunstall, 1983). • Trong một tổ chức, thuật ngữ "văn hóa" chỉ những giá trị niềm tin và nguyên tắc bên trong tạo thành nền tảng của hệ thống quản lý của doanh nghiệp, cũng như hàng loạt các thủ tục quản lý và hành vi ứng xử minh chứng và củng cố cho những nguyên tắc cơ bản này (theo Denison, 1990).
• Văn hóa tổ chức tượng trưng cho một hệ thống độc lập bao gồm các giá trị và cách ứng xử chung trong một cộng đồng và có khuynh hướng được duy trì trong một thời gian dài (theo Kotter và Heskett, 1992)., và nhiều khái niệm khác nữa. Nhìn chung, các khái niệm có thể phân thành 2 nhóm: Nhóm 1: Nhóm các khái niệm cho rằng văn hóa tổ chức thể hiện tư duy, hành động, hành vi, chuẩn mực ứng xử chung của tổ chức (theo Jaques 1952, Kotter và Heskett 1992). 8 Nhóm 2: Nhóm các khái niệm đề cập sâu hơn đến các giá trị niềm tin, nhận thức, quan điểm… và xem đây là giá trị nền tảng định hướng chung cho mọi hoạt động của tổ chức (theo Eldrige Crombie 1974, Denison 1990, Edgar Schein 1985- 1995). Trong đó, một trong những học giả nổi tiếng nhất về lĩnh vực này là Edgar Schein cho rằng, cách hiểu tốt nhất về văn hóa tổ chức là một tập hợp các khuynh hướng thiên về tâm lý (ông gọi đó là "những giả định cơ bản”) mà các thành viên của một tổ chức sở hữu, khiến họ suy nghĩ và hành động theo những cách cụ thể.
Quan điểm này được nhiều người chấp nhận và có xu hướng ngày càng phổ biến. Ông định nghĩa văn hóa tổ chức là: Một dạng của những giả định cơ bản - được sáng tạo, khám phá, phát triển và tích lũy thông qua giải quyết các vấn đề mà tổ chức gặp phải trong quá trình thích ứng với môi trường bên ngoài và hội nhập môi trường bên trong. Các giả định cơ bản này đã được xác nhận qua thời gian, vì thế, nó được truyền đạt cho những thành viên mới như là một cách thức đúng đắn để nhận thức, suy nghĩ và định hướng giải quyết mọi vấn đề 7. “Văn hóa tổ chức” hiện nay còn là một khái niệm rất mới mẻ ở Việt Nam.
Mặc dù chưa có những công trình lý luận nghiên cứu sâu rộng, nhưng thuật ngữ “văn hóa doanh nghiệp”, “văn hóa Công ty” đã được đề cập đến khá nhiều.