CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TRONG CÔNG TY 1.1 Khái niệm về văn hóa. "Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại. Phạm trù văn hóa rất đa dạng và phức tạp. Nó là một khái niệm có rất nhiều nghĩa được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau về đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009).
- Theo nghĩa gốc của từ "Ở phương Tây, văn hóa - culture (tiếng Anh, tiếng Pháp) hay kultur (tiếng Đức)… đều xuất phát từ chữ Latinh, có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trong nôm cây lương thực. Sau đó từ cultus được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chĩ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). "Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa bao hàm ý nghĩa "văn" là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn chữ "hóa" là đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa, giáo dục và hiện thực hóa trong thực tiễn, đời sống.
Vậy, văn hóa chính là nhân hóa hay nhân văn hóa" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). "Như vậy, văn hóa trong từ nguyên của cả phương Tây và phương Đông đếu có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). - Căn cứ phạm vi nghiên cứu 5 + "Theo phạm vi nghiên cứu rộng, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). "Do đó, nói đến văn hóa là nói đến con người - nói tới những đặc trưng riêng chỉ có ờ loài người, nói tới việc phát huy những năng lực và bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009).
"Cho nên, theo nghĩa này, văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người dù đó chỉ là những suy tư thầm kín, những cách giao tiếp ứng xử cho đến những hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới chân - thiện - mỹ trong đời sống" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). Theo UNESCO năm 2002 : "Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin" (Theo từ điển wikipedia) Theo Hồ Chí Minh : "Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi sự sinh tồn" (Lê Mậu Hưng và cộng sự, 2000) Theo E.Herriot : "Văn hóa là cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả" (theo từ điển Wikipedia) 6 + "Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con người.
Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, vật lý học, hóa học.) và văn hóa nghệ thuật (văn học, điện ảnh.) được coi là phân hệ chính của hệ thống văn hóa" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). + "Theo nghĩa hẹp hơn nữa, văn hóa được xem như một ngành - ngành văn hóa - nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). -Theo các hình thức biểu hiện "Văn hóa được phân loại thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hay nói đúng hơn, theo các phân loại này văn hóa bao gồm văn hóa vật thể (tangible) và văn hóa phi vật thể (intangible)" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). Theo Đỗ Thị Phi Hoài (2009) đã tóm lại, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử.2 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp.
"Trong một xã hội rộng lớn, mỗi doanh nghiệp được coi là một xã hội thu nhỏ. Xã hội lớn có nến văn hóa chung, xã hội nhỏ cũng cần xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng. Như Edgar Schein, một nhà quản trị nổi tiếng người Mỹ đã nói "Văn hóa doanh nghiệp (coporate culture) gắn với văn hóa xã hội, là một bước tiến văn hóa của xã hội, là tầng sâu của văn hóa xã hội. Văn hóa doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất, vừa chú ý quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa người và người.
Nói rộng ra, nếu toàn bộ nền sản xuất đều được xây dựng trên một nền văn hóa doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc vừa thích ứng với mọi thời đại hiện nay" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). "Ông Geoges de Saite Marie, chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp nhỏ và vừa định nghĩa : "văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, 7 huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009). Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và chấp nhận rộng rãi là của Edgar Schein : "Văn hóa công ty là tổng hợp hững quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh". Tóm lại, "Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó" (Đỗ Thị Phi Hoài, 2009).3 Triết lý kinh doanh "Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm.
khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh. Là một hệ thống bao gồm những giá trị có tính pháp lý và đạo lý nên phong thái đặc thù của chủ thể kinh doanh tạo phương thức phát triển bền vững của doanh nghiệp. Triết lý kinh doanh không những là cơ sở để các nhà quản trị đưa ra các quyết định quản lý có tính chiến lược quan trọng trong những tình huống mà sự phân tích lỗ lãi không thể giải quyết mà còn là phương tiện để giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh" (Hồ Tiến Dũng, 2014). Nội dung của triết lý kinh doanh bao gồm : 8 • "Sứ mệnh và mục tiêu kinh doanh cơ bản" (Hồ Tiến Dũng, 2014).
• "Các phương thức hành động để hoàn thành được sứ mệnh và mục tiêu" (Hồ Tiến Dũng, 2014). • "Các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp và hoạt động kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp" (Hồ Tiến Dũng, 2014).4 Đạo đức kinh doanh "Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Là một hệ thống các quy tắc cư xử, chuẩn mực đạo đức, các quy chế nội quy có vai trò điều tiết toàn bộ hoạt động của quá trình kinh doanh nhằm hướng tới triết lý đã định" (Hồ Tiến Dũng, 2014). "Đạo đức kinh doanh sẽ góp phần phát triển mối quan hệ với người lao động, với chính quyền, với khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp và với cộng đồng xã hội góp phần tạo nên môi trường kinh doanh ổn định" (Hồ Tiến Dũng, 2014).5 Hệ thống thông tin của doanh nghiệp "Các hình thức văn hóa khác bao gồm hệ thống thông tin của doanh nghiệp được thể hiện bằng tất cả những giá trị trực quan hay phi trực quan điển hình.
Có thể mô tả các hình thức văn hóa khác của văn hóa kinh doanh gồm thông tin về sử dụng hình thức mẫu mã sản phẩm, kiến trúc nội và ngoại thất, bộ máy quản lý, nội quy, nghi lễ kinh doanh, giai thoại và truyền thuyết, biểu tượng, ngôn ngữ và khẩu hiệu, ấn phẩm điển hình, lịch sử phát triển và truyền thống văn hóa" (Hồ Tiến Dũng, 2014).6 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp 1.1 Văn hóa doanh nghiệp là phương thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững "Kinh doanh và văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, kinh doanh có văn hóa là lối kinh doanh có mục đích và theo phương thức cùng đạt tới cái lợi, cái thiện, cái đẹp. Việc phát triển hoạt động kinh doanh có văn hóa sẽ giúp cho doanh nghiệp không những thỏa mãn được mong muốn tìm kiếm lợi nhuận mà còn là động lực giúp các chủ thể kinh doanh đạt nhu cầu tự thể hiện mình, được xã hội và pháp luật tôn trọng. Do đó, việc hình thành và phát triển văn hóa kinh doanh trong doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp phát triển bền vững" (Hồ Tiến Dũng, 2014).2 Văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực phát triển kinh doanh "Trong tổ chức và quản lý kinh doanh, vai trò của văn hóa thể hiện ở sự lựa chọn phương hướng kinh doanh, sự hiểu biết về sản phẩm, dịch vụ, về những mối quan hệ giữa người với người trong tổ chức, tuân theo các quy tắc, quy luật của thị trường, phát triển và bảo hộ những hàng hóa có bản sắc văn hóa dân tộc. Khi tất cả những yếu tố văn hóa này kết tinh vào hoạt động kinh doanh tạo thành phương thức kinh doanh có văn hóa thì đây chính là một nguồn lực rất quan trọng để phát triển kinh doanh" (Hồ Tiến Dũng, 2014).
"Trong giao lưu, giao tiếp kinh doanh thì văn hóa kinh doanh hướng dẫn toàn bộ hoạt động giao lưu, giao tiếp trong kinh doanh.