Chương 1: Cơ sở lý luận văn hóa doanh nghiệp - Chương 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Schneider Electric Việt Nam - Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại công ty TNHH Schneider Electric Việt Nam 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp Nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp, trước tiên chúng ta cần hiểu rõ về phạm trù văn hóa, cái mà chúng ta đang nhắc đến hàng ngày, đã được các nhà nghiên cứu kiểm chứng. Mục đích của nghiên cứu về văn hóa là trên cơ sở đó chúng ta sẽ xây dựng được đầy đủ các thành tố, cũng như mối quan hệ giữa văn hóa nói chung và văn hóa doanh nghiệp nói riêng.1 Văn hóa Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại. Văn hóa đã xuất hiện cùng với sự phát triển loài người từ rất lâu nhưng mãi đến thế kỷ 17 các nhà khoa học trên thế giới mới tập trung nghiên cứu về phạm trù này. Đến cuối thế kỷ 19, cùng với sự phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật thì văn hóa được nghiên cứu sâu và rộng rãi hơn.
Phạm trù văn hóa rất đa dạng và phức tạp. Văn hóa là một khái niệm có rất nhiều nghĩa được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau về đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện. Do đó tùy theo từng góc độ nghiên cứu và tiếp cận sẽ có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo nghĩa gốc của từ Ở phương Tây, văn hóa – culture ( trong tiếng Anh, tiếng Pháp) hay kultur (tiếng Đức)…đều xuất xứ từ chữ Latinh – cultus có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực.
Sau đó từ cultus được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sụ vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người. 12 Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa bao gồm ý nghĩa “văn” là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn chữ “hóa” là đem lại cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa, giáo dục và thực hiện trong thực tiễn, đời sống. Vậy văn hóa chính là nhân hóa hay nhân văn hóa.
Như vậy, văn hóa trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu Theo phạm vi nghiên cứu rộng, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Do đó, nói đến văn hóa là nói đến con người – nói tới những đặc trưng riêng chỉ có ở loài người, nói tới việc phát huy những năng lực và bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người. Cho nên, theo nghĩa này, văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người dù đó là những suy tư thầm kín, những cách giao tiếp ứng xử cho đến những hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội.
Hoạt động văn hóa là hoạt động tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới chân – thiện – mỹ và khả năng sáng tạo chân – thiện – mỹ trong đời sống. Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con người. Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, vật lý học, hóa học…) và văn hóa nghệ thuật (văn học, điện ảnh…) được coi là hai phân hệ chính của hệ thống văn hóa. Theo nghĩa hẹp hơn nữa, văn hóa được xem như là một ngành nghề, ngành văn hóa – nghệ thuật để phân biệt với ngành kinh tế – kỹ thuật khác.
13 Căn cứ theo hình thức biểu hiện Văn hóa được phân loại thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hay nói đúng hơn, theo cách phân loại này văn hóa bao gồm văn hóa vật thể (tangible) và văn hóa phi vật thể (intangible). Loại hình văn hóa vật thể có kể đến như: các đền chùa, cảnh quan, di tích lịch sử, sản phẩm văn hóa truyền thống như tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, áo dài áo tứ thân….Còn các phong tục tập quán, các làn điệu dân ca hay bảng giá trị, các chuẩn mực đạo đức của một dân tộc… là thuộc loại hình văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên sự phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối bởi vì trong một sản phẩm văn hóa thường có cả yếu tố “vật thể” và “phi vật thể” như cái hữu hình và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau, như thân xác và tâm trí của con người. Điển hình như trong không gian văn hóa cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên, ẩn sau cái vật thể hữu hình của nó gồm những cồng, chiên, những con người của núi rừng, những nhà sàn, nhà rông mang đậm bản sắc… là cái vô hình của âm hưởng, phong cách và quy tắc chơi nhạc đặc thù, là cái hồn của thời gian, không gian và giá trị lịch sử.
Như vậy, khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần được sử dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong mối quan hệ giữa người và người, giữa người với tự nhiên và môi trường xã hội. Trong khoa học nghiên cứu về văn hóa, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng. Theo nghĩa này, định nghĩa văn hoá cũng có rất nhiều. Chẳng hạn, định nghĩa đầu tiên của E.Taylor năm 1871 xem văn hóa là “một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được”.
14 Theo Unesco: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm…khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…” Theo E.Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả”. Theo Nhà nhân chủng học người Anh Edward B. Taylor, văn hoá là một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, pháp luật, đạo đức, phong tục, và bất kỳ năng lực và thói quen nào khác được người ta thu nhận như là một thành viên của xã hội. Như vậy có thể định nghĩa Văn hoá là một hệ thống của các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và xã hội.1 Khái niệm Trong một xã hội rộng lớn, mỗi doanh nghiệp được coi là một xã hội thu nhỏ.
Xã hội lớn có nền văn hóa chung, còn đối với một tổ chức hay một doanh nghiệp bất kỳ nào cũng sẽ đề ra các qui tắc riêng cho hoạt động của mình, bao gồm các qui tắc và chuẩn mực bắt buộc, những lễ nghi và thủ tục cần thiết khi thực hiện một công việc nào đó. Chúng được phát triển theo thời gian và làm toát lên những đặc điểm cơ bản về hoạt động của doanh nghiệp đó. Thực tế cũng cho thấy rằng thành công hay thất bại của nhiều doanh nghiệp ngoài sự phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế chung, sự cạnh tranh từ bên ngoài.v còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố bên trong. Các yếu tố bên trong sẽ tạo ra sức mạnh của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có được cái nhìn chiến 15 lược, hoạch định và kiểm soát tốt hơn để có thể khống chế được các rủi ro từ bên ngoài và đạt được các mục tiêu của mình.
Vậy yếu tố bên trong ấy là gì, sức mạnh doanh nghiệp có từ đâu, chất lượng quản lý chi phối các hoạt động doanh nghiệp như thế nào và ngược lại nó chịu những sự tác động nào. Một trong những nguồn sức mạnh mà doanh nghiệp có được chính là sức mạnh có được từ văn hoá của doanh nghiệp đó. Vậy văn hoá doanh nghiệp là gì? Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp gồm nhiều yếu tố như: giá, chất lượng, công nghệ, sản phẩm, quá trình đổi mới, dịch vụ khách hàng, hệ thống hậu cần, tài năng, thương hiệu…mỗi một yếu tố trên đều góp phần quan trọng trong việc giúp một công ty tạo nên sự khác biệt riêng. Tuy nhiên, có một yếu tố mặc dù không rõ ràng lắm và dường như vô hình nhưng lại có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định lợi thế cạnh tranh của một công ty.
Chẳng hạn như cái bắt tay nồng ấm, nụ cười thân thiện và ánh mắt chung tình. Trong môi trường cạnh tranh, điều này đã tạo nên bản sắc riêng cho doanh nghiệp của bạn, và nó được xem là giá trị làm nên sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Yếu tố đó chính là Văn hoá doanh nghiệp. Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hoá doanh nghiệp, nhưng một định nghĩa được coi là khái quát nhất về văn hoá được hai học giả là Rolff Bergman và Ian Stagg đồng thời là giảng viên của khoa quản trị kinh doanh trường đại học Monash, một trong những trường đại học lớn của Úc cho rằng: “Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa biểu đạt chung bao trùm lên toàn bộ doanh nghiệp, có tính chất quyết định tới mọi hành vi và hoạt động của toàn bộ các thành viên trong doanh nghiệp đó” Ở mức độ phổ cập rộng rãi, các ý nghĩa biểu đạt chung sẽ quy định cho các thành viên phải nhìn nhận và phản hồi thế giới bên ngoài như thế 16 nào khi phải đương đầu với một vấn đề nào đó ngoài mong đợi.
Các qui tắc và chuẩn mực sẽ gợi ý các thành viên của mình hành động bằng một cách làm phù hợp, cách làm ở đây có nghĩa là hướng dẫn họ tiếp nhận, định nghĩa, phân tích và giải quyết một vấn đề.