CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm văn hóa Tùy theo góc nhìn, cách tiếp cận và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau nên hiện có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa (culture1) như: Năm 1871, tác giả Edward Bernett Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”2 Tác giả Franz Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau”3 Trong bài phát biểu tại lễ phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1988 – 1997) của UNESCO ở Pari năm 1988, Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor Zaragoza khẳng định: “Văn hóa đã phản ánh cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ nó đã cấu thành nên hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”4 Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng văn hóa là “hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”5 1 Có gốc Latin là “cultus animi” nghĩa là trồng trọt tinh thần. Cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thính ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ có những phẩm chất tốt đẹp 2 E. Tylor (1871), Văn hóa nguyên thủy, Huyền Giang (2001) dịch từ tiếng Nga, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, tr.
Boas (1921), Primitive Minds (Trí óc của người Nguyên Thủy), Ngô Phương Lan dịch, NXB Lao đông, tr.149 4 Nguyễn Mạnh Quân (2011), Vận dụng văn hoá doanh nghiệp vào việc xây dựng và phát triển thương hiệu mang đạm đà bản sắc dân tộc cho các doanh nghiệp Việt Nam, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr.26 5 Trần Quốc Vượng (2005), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, tr. 22 6 Bằng tư duy tổng hợp, tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”1. Từ những khái niệm trên, ta nhận thấy văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần của con người trong các quan hệ với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội được lưu giữ, truyền thụ, tiếp biến từ thế hệ này sang thế hệ khác nhằm duy trì và phát triển cuộc sống của cộng đồng, hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Bản chất của văn hóa là tính người và tính xã hội.
Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Vì là lĩnh vực nghiên cứu mới nên hiện khái niệm VHDN (corporate culture) hay văn hóa tổ chức (organizational culture) vẫn còn rất khác nhau: Tác giả Edgar H. Schein cho rằng VHDN có thể được định nghĩa là “mô hình mẫu của các giả định căn bản được chia sẻ mà nhóm đó đã học hỏi được khi giải quyết các vấn đề liên quan đến việc điều chỉnh cho phù hợp với bên ngoài và hội nhập ở bên trong, nó đã vận hành đủ tốt để có thể được đánh giá là phù hợp và do đó được hướng dẫn lại cho các thành viên mới như một phương pháp đúng đắn để lĩnh hội, tư duy và cảm xúc đối với các vấn đề như trên”2. Tác giả Georges de Saite Marie định nghĩa: “VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”3 Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO – International Labour Oraganization) cho rằng “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen, truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”4 Tác giả Phạm Xuân Nam định nghĩa “VHDN là một hệ thống các ý nghĩa, 1 GS.TSKH Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, tr. Schein (2012), Organizational Culture and Leadership – Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo, NXB Thời đại, tr.42 3 Nguyễn Mạnh Quân (2007), Đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty, N X B Đại học Kinh tế quốc dân, tr.259 4 Nguyễn Mạnh Quân (2007), Đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty, N X B Đại học Kinh tế quốc dân, tr.259-260 7 giá trị niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên cuả một doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên”1 Tác giả Đỗ Minh Cương định nghĩa “VHDN là một dạng của VHDN bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó”2 Tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa “VHDN là hệ thống các giá trị của doanh nghiệp, được sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh trong mối quan hệ với môi trường xã hội và tự nhiên nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp thông qua việc đem lại lợi ích cho xã hội”3.
Từ những khái niệm trên, ta thấy VHDN là toàn bộ những giá trị tinh thần mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của các thành viên cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. (3) Thời gian của VHDN là toàn bộ quá trình tồn tại và hoạt động từ khi thành lập đến thời điểm đang xét. Cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp 1. Từ góc độ động thái Dưới góc độ động thái thì VHDN là một hệ thống bao gồm ba thành tố: (1) giá trị của chủ thể (con người/tổ chức); (2) giá trị của các hoạt động, quan hệ của con người; (3) giá trị của sản phẩm do con người tạo ra, cấu trúc của VHDN gồm: Văn hóa chủ thể: các giá trị liên quan đến doanh nghiệp ở trạng thái tĩnh tại của nó: tổ chức, truyền thống, triết lý và kinh nghiệm, các nhân tài… 1 PGS.TS Phạm Xuân Nam (1996), Văn hoá, đạo đức trong Kinh doanh, NXB Khoa học xã hội, tr.21 2 Đỗ Minh Cương (2001), Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, NXB Chính trị quốc gia, tr.TSKH Trần Ngọc Thêm (2013).
Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng. NXB Văn hóa văn nghệ, tr.509 8 Văn hóa hoạt động: các giá trị liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo công đoạn (đầu tư, sản xuất, tiếp thị, tư vấn, lưu thông, phân phối, bảo hành), theo nhóm loại (sản xuất, thương mại, dịch vụ). Văn hóa sản phẩm: các giá trị liên quan đến sản phẩm, những hình thức kinh doanh nào có sản phẩm càng liên quan nhiều đến con người thì đặc thù tạo nên văn hóa riêng càng rõ nét1. Từ góc độ tĩnh trạng Từ góc độ tĩnh trạng, mọi giá trị văn hóa có thể quy về ba loại hoạt động là hoạt động nhận thức, hoạt động tổ chức và hoạt động ứng xử tương ứng với ba thành tố là văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử.
Văn hóa nhận thức: gồm nhận thức khái quát (triết lý kinh doanh, đạo đức, trách nhiệm…); nhận thức chuyên sâu (các kinh nghiệm kinh doanh và tri thức nghề nghiệp tích lũy được…); nhận thức cảm tính (tin ngưỡng tổ nghề, giổ tỗ…). Văn hóa tổ chức: gồm tổ chức đời sống tập thể (trên mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp) và tổ chức đời sống cá nhân (gồm đời sống vật chất như ăn, mặc, ở, đi lại…và đời sống tinh thần như vui chơi, giải trí, thông tin…). Văn hóa ứng xử: gồm ứng xử với môi trường xã hội (ứng xử với khách hàng, bạn hàng, đối tác… và cộng đồng cư dân nơi cư trú); ứng xử với môi trường tự nhiên (ứng xử với môi trường tự nhiên nơi cư trú, với nguồn nguyên nhiên liệu). Theo nguyên lý “tảng băng trôi”2 Tầng nổi: các giá trị hữu hình được biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng vật chất: logo, đồng phục, văn phòng, môi trường làm việc, ứng xử, nghi thức, nghi lễ, các bảng nội quy, khẩu hiệu, các bảng ghi tầm nhìn, sứ mạng, các sản phẩm… Tầng chìm: các giá trị vô hình: (1) các giá trị bản sắc (nếu doanh nghiệp đã có lịch sử tồn tại), chúng nằm trong tâm thức và chi phối tư duy, thói quen, cảm xúc của người lao động.
(2) Các giá trị chuẩn mực mà tập thể đã xác lập để hướng tới (sứ mạng, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi, mục tiêu chiến lược, triết lý của doanh 1 Sản xuất có tính đặc thù thấp nhất; thương mại cao hơn; và dịch vụ có tính đặc thù cao nhất 2 Ernest Hemingwayđưa ra khái niệm “nguyên lý tảng băng trôi” lần đầu tiên trong tác phẩm “Ông già và biển cả” 9 nghiệp…) – chúng nằm trong nhận thức và có trách nhiệm điều chỉnh VHDN hiện có, làm cho nó thay đổi nhanh hơn theo chiều hướng tích cực. Những nhân tố tạo lập văn hóa doanh nghiệp Những giá trị văn hoá văn hoá Dân tộc: doanh nghiệp là một tế bào của xã hội nên sự phản chiếu của văn hoá dân tộc lên VHDN là một điều tất yếu. Nhà lãnh đạo: là người kiến tạo VHDN và sáng tạo ra các biểu trưng, qua quá trình xây dựng và quản lý doanh nghiệp, hệ tư tưởng và tính cách của nhà lãnh đạo sẽ được phản chiếu lên VHDN. Những giá trị văn hoá hội nhập: những giá trị VHDN do tập thể người lao động tạo dựng, kinh nghiệm của cá nhân, giá trị được học hỏi từ doanh nghiệp khác, nền văn hóa khác, là xu hướng hoặc trào lưu hội nhập thành nét VHDN.