Mục lục Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp. Khái niệm, vai trò của văn hóa và văn hóa doanh nghiệp. Khái niệm văn hóa và vai trò của văn hóa. Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội.
Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp. Các cấp độ văn hóa doanh nghiệp. Các giai đoạn hình thành văn hóa doanh nghiệp.
Một số dạng văn hóa doanh nghiệp. Mô hình nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Trompenaars. Mô hình nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp N. Mô hình nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Deal và Kennedy.
Mô hình nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Daft. Tác động của văn hóa doanh nghiệp đối với sự phát triển doanh nghiệp. Tác động tích cực. Văn hoá doanh nghiệp tạo nên phong thái của doanh nghiệp, giúp phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.
Văn hóa doanh nghiệp tạo nên lực hướng tâm chung cho toàn doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp khích lệ quá trình đổi mới và sáng chế. Tác động tiêu cực. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hình thành văn hóa doanh nghiệp.
Văn hoá Dân tộc. Những giá trị văn hoá học hỏi được. Một vài nét về văn hóa doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Văn hóa doanh nghiệp ở một số công ty lớn.
Thành công của văn hóa doanh nghiệp Honda. Các tiêu chí đánh giá văn hóa doanh nghiệp Việt Nam.36 Chƣơng 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Công ty TNHH Minh Giang. Khái quát chung về Công ty TNHH Minh Giang. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH Minh Giang.
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm. Mô hình văn hóa doanh nghiệp Công ty đang xây dựng. Các quy tắc đạo đức trong kinh doanh của Minh Giang. Hệ thống các giá trị cốt lõi.
Hệ thống các chuẩn mực trong hoạt động của Công ty Minh Giang. Chuẩn mực về giao tiếp và truyền đạt thông tin. Cách thức giao tiếp và truyền đạt thông tin. Hình thức giao tiếp và truyền đạt thông tin.
Kênh giao tiếp và truyền đạt thông tin. Hệ thống giáo dục và đào tạo .6 Xây dựng thương hiệu doanh nghiệp .61 Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Công ty TNHH Minh Giang. Đánh giá mô hình văn hóa doanh nghiệp công ty đang xây dựng. Đánh giá mô hình văn hóa doanh nghiệp của công ty qua các tiêu chí.
Một số vấn đề tồn tại của mô hình văn hóa doanh nghiệp. Những thành công mà văn hóa doanh nghiệp đã mang lại cho công ty. Phƣơng hƣớng xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Công ty TNHH Minh Giang trong thời gian tới. Phương châm xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Kế hoạch hành động xây dựng và phát triển văn hoá mạnh ở Minh Giang. Một số giải pháp nhằm xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Công ty TNHH Minh Giang. Xây dựng một mô hình văn hóa doanh nghiệp tích cực, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp. Nâng cao ý thức về văn hóa doanh nghiệp cho thành viên doanh nghiệp.
Tăng cường đầu tư vật chất cho xây dựng văn hóa doanh nghiệp.85 Tài liệu tham khảo:.87 -3- CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÕ CỦA VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP. Khái niệm văn hóa và vai trò của văn hóa 1. Khái niệm văn hóa Tại phương Tây, văn hoá – culture (trong tiếng Anh, tiếng Pháp) hay kultur (tiếng Đức)… đều xuất xứ từ chữ Latinh cultus có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực; nói ngắn gọn là sự vun trồng.
Sau đó từ cultus được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người. Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hoá bao hàm ý nghĩa: văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn chữ hoá trong văn hoá là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực tiễn đời sống. Vậy văn hoá chính là nhân hoá hay nhân văn hoá.
Đường lối văn trị hay đức trị của Khổng Tử là từ quan điểm cơ bản này về văn hóa (văn hóa là văn trị giáo hoá, là giáo dục, cảm hoá bằng điển chương, lễ nhạc, không dùng hình phạt tàn bạo và sự cưỡng bức). Như vậy, văn hoá trong từ nguyên của cả Phương Đông và Phương Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. -4- Theo UNESCO, quan niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm. khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, xóm làng quốc gia, xã hội.
Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng. Hay theo Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn” Từ những quan niệm trên, chúng ta thấy khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần được sử dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mỹ trong mối quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên và môi trường xã hội. Chính vì vậy, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thân mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử.
Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội a. Văn hoá là mục tiêu của sự phát triển xã hội: Có quan điểm cho rằng: Sự phát triển của các quốc gia chính là sự tăng trưởng cao về mặt kinh tế. Nhưng thực tế cho thấy rằng việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá có những thành tựu là nhu cầu vật chất của dân cư được đáp ứng, các thành tựu về khoa học công nghệ đã -5- giúp con người thám hiểm được vũ trụ, đại dương…, nhưng kèm theo đó là biết bao hậu quả nghiêm trọng đe doạ cuộc sống con người như ô nhiễm môi trường, thiên tai, bệnh tật… Để lập lại sự cân bằng giữa tự nhiên và con người, giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định và phát triển hài hoà trình độ phát triển của các quốc gia không chỉ căn cứ vào sự tăng trưởng hay phát triển kinh tế của nó, mà thước đo sự phát triển quốc gia căn cứ vào mức độ phát triển con người (HDI - Human development index). Đó là một hệ thống gồm ba chỉ tiêu cơ bản: (1) mức độ phát triển kinh tế đo bằng mức sống bình quân của người dân (GDP/ người); (2) tiến bộ về y tế đo bằng tuổi thọ trung bình của người dân; (3) trình độ hay tiến bộ về giáo dục căn cứ vào tỷ lệ người biết chữ và số năm đi học trung bình của người dân.
Như vậy, mục tiêu cao cả nhất của các quốc gia phải là sự phát triển con người toàn diện, là việc nâng cao chất lượng sống cho nhân dân chứ không phải là mục tiêu phát triển kinh tế hay phát triển một số bộ phận, một số mặt nào đó của đời sống xã hội. Như Tổng Giám đốc UNESCO đã tuyên bố trong dịp phát động Thập kỷ Quốc tế phát triển văn hoá của Liên Hiệp Quốc (1988-1997): “…Tóm lại, động cơ và mục đích của sự phát triển phải được tìm trong văn hoá. Từng doanh nghiệp, các địa phương, mọi người, các nhà chức trách phải kịp thời nắm lấy bài học này”. Văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội: Động lực của sự phát triển xã hội hay của một quốc gia là một hệ thống động lực mà trong đó văn hoá có vị trí trung tâm là cốt lõi của nó.
Một số lý do chính để văn hoá có vai trò tạo ra sự kích thích, thúc đẩy và phát triển của các quốc gia và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung như sau: -6- + Thứ nhất: Trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nếu kiểu sống của dân tộc phù hợp với các yếu tố của văn minh (thường có nguồn gốc ngoại sinh); phù hợp giữa hiện đại và truyền thống thì văn hoá sẽ cổ vũ, tăng cường cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Trái lại, khi truyền thống không phù hợp và chống lại hiện đại, khi đó văn hoá sẽ trở thành lực lượng kìm hãm quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kìm hãm sự phát triển. + Thứ hai: Văn hoá có thể trở thành một nguồn lực, sức mạnh tinh thần vô hình nhưng vô cùng mạnh mẽ đối với sự phát triển của xã hội. Đây là nguồn lực tồn tại tiềm ẩn trong mỗi cá nhân cũng như cộng đồng dân tộc.
Nhưng tại thời điểm đặc biệt - khi xuất hiện nguy cơ đối với sự tồn vong của quốc gia dân tộc - nếu Nhà nước có một ý chí lớn và sự khôn ngoan biết đánh thức, khơi dậy và phát huy sức mạnh văn hóa thì sẽ tạo ra được một động lực rất mạnh mẽ thúc cả đất nước đi lên. + Thứ ba: Các loại hình văn hoá nghệ thuật, các sản phẩm văn hoá hữu hình và vô hình nếu được khai thác và phát triển hợp lý sẽ tạo ra sự giàu có về đời sống vật chất và tinh thần của quốc gia, tạo động lực phát triển xã hội. Văn hoá là linh hồn và hệ điều tiết của sự phát triển: Nhà nước lãnh đạo và quản lý sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia.