Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn hóa Văn hoá là một phạm trù rất rộng, phản ánh mọi mặt của đời sống con người. Văn hóa vừa là sản phẩm sáng tạo của loài người, vừa là giá trị tạo nên cuộc sống của con người và sự tiến bộ của nhân loại.
Có nhiều cách tiếp cận khi nghiên cứu về văn hoá và về vai trò của văn hoá đối với đời sống con người. Chính vì lẽ đó, có rất nhiều định nghĩa về văn hoá, phản ánh cách tiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau, phạm vi, đối tượng nghiên cứu xác định và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu điện ảnh, … Các trung tâm văn hóa có ở khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận.
Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là bộ phận trong đời sống con người. Theo nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ Edward Sapir (1884 – 1939) cho rằng văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và trung tâm từ điển học xuất bản năm 2014 đưa ra quan niệm: Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vất chất và tinh thân do con người sáng tạo ra 9 trong quá trình lịch sử. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội.
Như vậy, văn hóa là tất cả những giá trị vật thể và phi thật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.1 Chủ đề VHDN xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960. Đến đầu thập niên 1990, người ta bắt đầu đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về những nhân tố cấu thành cũng như tác động to lớn của văn hóa đối với sự phát triển của một doanh nghiệp. Vì bản chất trừu tượng của nó nên đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra về VHDN.
Xét từ góc độ quản trị tác nghiệp, VHDN có thể được định nghĩa như sau: VHDN bao gồm một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong cùng một tổ chức cùng thống nhất và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến nhận thức và hành động của từng thành viên. Nhìn từ góc độ xã hội, VHDN có thể coi là chất kết dính vô hình các thành viên trong xã hội (nhóm, cộng đồng…) với nhau tạo nên mạng lưới xã hội phát huy tác động lan tỏa cả trong và ngoài mạng lưới. Yếu tố văn hóa luôn song hành cùng với quá trình phát triển của doanh nghiệp. VHDN và lăn hóa của một tổ chức, vì vậy mà nó không đơn thuần là văn hóa giao tiếp hay văn hóa kinh doanh, nó cũng không phải là những khẩu 1 Tác giả luận văn tổng hợp từ PGS.
Nguyễn Mạnh Quân - Chuyên đề Văn hóa doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Cục phát triển doanh nghiệp – 2012 và Sapir, Edward (1966) Culture, Language and Personality, Selected Essays, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, Viện Ngôn ngữ học, 2014, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học 10 hiệu của ban lãnh đạo được treo trước cổng hay trong phòng họp, mà nó bao gồm sự tổng hợp của các yếu tố trên. Nó là giá trị, là niềm tin, chuẩn mực được thể hiện trong thực tế và trong các hành vi mỗi thành viên trong doanh nghiệp. VHDN là sự tổng hợp của các khái niệm văn hóa tổ chức, văn hóa kinh doanh, văn hóa giao tiếp, văn hóa doanh nhân và văn hóa thương hiệu. Như vậy, có thể nói văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp, tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp.
Khái niệm phát triển văn hóa doanh nghiệp Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện, cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu. Phát triển văn hóa doanh nghiệp phải đi theo chiều rộng và chiều sâu, tức là làm cho các yếu tố cấu thành nên văn hóa của một doanh nghiệp thăng hoa lên, ngày càng đi lên phát triển theo hướng tiến bộ dựa trên các giá trị chuẩn mực về văn hóa của doanh nghiệp. Đây là một mục tiêu không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường bởi chính nó giúp cho doanh nghiệp nâng cao được hình ảnh, uy tín và đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của mình. Các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp Theo Giáo sư Edgar H.
Schein, văn hóa doanh nghiệp có thể chia thành ba cấp độ khác nhau. Thuật ngữ “cấp độ” dùng để chỉ mức độ có thể cảm nhận được của các giá trị văn hóa doanh nghiệp hay nói cách khác là tính hữu 11 hình của các giá trị văn hóa đó. Đây là cách tiếp cận đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hóa, giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc những bộ phận cấu thành của nền văn hóa đó [1]. Cấp độ thứ nhất: Cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp (Artifacts) Đây là cấp độ văn hóa có thể nhìn thấy ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên bao gồm các hiện tượng và sự vật mà một người có thể nghe, nhìn và cảm thấy khi tiếp xúc với một tổ chức xa lạ: Kiến trúc, cách bài trí trụ sở làm việc; công nghệ, sản phẩm; Bộ máy tổ chức, các phòng ban của doanh nghiệp; Các văn bản qui định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp; Lễ nghi và lễ hội hàng năm; Các biểu tượng, khẩu hiệu, quảng cáo của doanh nghiệp; Ngôn ngữ, cách ăn mặc, xe cộ, chức danh, cách biểu lộ cảm xúc, hành vi ứng xử của các thành viên trong doanh nghiệp; Những câu chuyện và những giai thoại về tổ chức; Hình thức, mẫu mã của sản phẩm; Thái độ và cung cách ứng xử của các thành viên doanh nghiệp.
Cấp độ văn hoá này có đặc điểm chung là chịu ảnh hưởng nhiều của tính chất công việc kinh doanh của công ty, quan điểm của người lãnh đạo… Tuy nhiên, cấp độ văn hoá này dễ thay đổi và ít khi thể hiện được những giá trị thực sự trong văn hóa doanh nghiệp. Cấp độ thứ hai: Những giá trị được tuyên bố (Espoused Values) Doanh nghiệp nào cũng có những qui định, nguyên tắc, triết lí, chiến lược và mục tiêu riêng, là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ nhân viên và thường được công bố rộng rãi ra công chúng. Đây cũng chính là những giá trị được công bố, một bộ phận của nền văn hóa doanh nghiệp. “Những giá trị tuyên bố” cũng có tính hữu hình vì người ta có thể nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác.
Chúng thực hiện chức năng hướng dẫn cho các thành viên trong doanh nghiệp cách thức đối phó với một số tình thế 12 cơ bản và rèn luyện cách ứng xử cho các thành viên mới trong môi trường doanh nghiệp. Cấp độ thứ ba: Những quan niệm chung (Basic Underlying Assumptions) Trong bất cứ cấp độ văn hoá nào (văn hoá dân tộc, văn hoá kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp…) cũng đều có các quan niệm chung, được hình thành và tồn tại trong một thời gian dài, chúng ăn sâu vào tâm lí của hầu hết các thành viên trong nền văn hoá đó và trở thành điều mặc nhiên được công nhận. Khi các thành viên cùng nhau chia sẻ và hành động theo đúng quan niệm chung đó, họ sẽ rất khó chấp nhận những hành vi đi ngược lại. Ví dụ, cùng một vấn đề trả lương cho người lao động, các công ty Mĩ và nhiều nước châu Âu thường có chung quan niệm trả theo năng lực.
Chính vì vậy, một người lao động trẻ mới vào nghề có thể nhận được mức lương rất cao nếu họ thực sự có tài. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp châu Á, trong đó có Việt Nam, một người lao động trẻ rất khó có thể nhận được mức lương cao ngay từ đầu. Cả ba cấp độ trên của văn hóa doanh nghiệp luôn hòa quyện và tương thích với nhau cùng hướng tới việc thể hiện đặc trưng riêng của doanh nghiệp đó. Cách tiếp cận phân kiểu văn hóa doanh nghiệp theo quan điểm của các nhà nghiên cứu 1.
Mô hình Harrison – Handy Harrison và Handy đã phát triển ý tưởng về văn hóa tổ chức trên nền ý tưởng của thần thoại Hy Lạp [7]. Văn hóa kiểu quyền lực: - Quyền lực nằm trong tay một số ít cá nhân ở trung tâm tổ chức, tỏa ra từ trung tâm tổ chức đến các bộ phận còn lại - Các cá nhân được đánh giá bởi thành tích - Ra quyết định nhanh chóng 13 - Hay thấy trong các tổ chức nhỏ, tổ chức chính trị - Tính quan liêu và quy tắc ở mức tối thiểu Văn hóa kiểu phân vai - Mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong tổ chức đóng vai trò riêng - Quan hệ giữa các bộ phận dựa trên nguyên tắc - Tổ chức giống như ngôi nhà dựa trên cột, kèo, .