CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TƯ DUY VÀ TƯ DUY SÁNG TẠO. Một số vấn đề cơ bản về tư duy. Khái niệm tư duy.
Đặc điểm cơ bản của tư duy. Một số vấn đề về tư duy sáng tạo. Khái niệm tư duy sáng tạo. Các yếu tố của tư duy sáng tạo.
Dạy học toán và tư duy sáng tạo. Vai trò của tư duy sáng tạo trong môn Toán. Hoạt động giải toán. Một số vấn đề về phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học trong dạy học giải toán.
Tư duy sáng tạo của học sinh tiểu học. Một số hạn chế của việc phát triển tư duy sáng tạo trong dạy học giải toán cho học sinh tiểu học hiện nay. Cơ hội và định hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán. PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIẢI TOÁN.
Phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán về số tự nhiên. Tính mềm dẻo. Tính thuần thục. Hướng dẫn tự học.
Phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán về phân số và số thập phân. Tính mềm dẻo. Tính thuần thục. Hướng dẫn tự học.
Phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán về dãy số. Tính mềm dẻo. Tính thuần thục. Hướng dẫn tự học.
Phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán về tương quan tỷ lệ thuận và tỷ lệ nghịch. Tính mềm dẻo. Tính thuần thục. Hướng dẫn tự học.
Phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán về tính toán một số đại lượng hình học. Tính mềm dẻo. Tính thuần thục. Hướng dẫn tự học.
Phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán về vẽ, cắt ghép, gấp và xếp hình hình học. Tính mềm dẻo. Tính thuần thục. Hướng dẫn tự học.
Phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán về suy luận lôgic. Tính mềm dẻo. Tính thuần thục. Hướng dẫn tự học.
Phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán về toán vui, toán cổ. Tính mềm dẻo:. Tính thuần thục. Hướng dẫn tự học.
Phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học giải toán có yếu tố Thống kê - Xác suất. Tính mềm dẻo:. Tính thuần thục:. Hướng dẫn tự học.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TƯ DUY VÀ TƯ DUY SÁNG TẠO 1. Một số vấn đề cơ bản về tư duy 1. Khái niệm tư duy Theo V. Lê Nin [16]: “Tư duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn, đi sâu một cách vô hạn, từ giả tưởng tới bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể như vậy, đến bản chất cấp hai,.
đến vô hạn”. Theo đó, tư duy của con người xem như là một sự phản ánh thế giới một cách toàn diện, khách quan và đặc biệt là không có giới hạn. Mác [16], tư duy là một quá trình dẫn đến điều mới mẻ. Tính “kết quả” thể hiện sản phẩm của tư duy đã được X.Rubinstêin [16] và một số tác giả cùng trường phái làm rõ thêm: nhờ quá trình tư duy, sự vật được phản ánh ngày càng rõ (thể hiện bản chất của tư duy là một quá trình liên tục, không ngừng) “lộ ra” những thuộc tính mới.
Theo nghĩa từ điển [21]: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí”. Bàn về việc rèn luyện tư duy trong môn Toán, Trần Thúc Trình Error! Reference source not found. quan niệm: “Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó chủ thể chưa biết”. Theo Trần Ngọc Lan và Trương Thị Tố Mai [15]: Tư duy là một hiện tượng tâm lí, là một quá trình nhận thức bậc cao có ở con người, phản ánh hiện thực khách quan và bộ não dưới dạng khái niệm, phán đoán, suy lí,… tư duy nảy sinh trong hoạt động xã hội, là sản phẩm hoạt động xã hội, bao hàm những quá trình nhận thức gián tiếp tiêu biểu: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa,… Kết quả của quá trình tư duy là sự nhận thức về một đối tượng nào đó mức độ cao hơn, sâu sắc hơn.
Tóm lại, từ những góc nhìn và quan niệm về tư duy nói trên, có thể hiểu tư duy là hoạt động nhận thức bậc cao của con người. Tư duy gắn liền với các hoạt động trí tuệ của con người, nhằm đạt được những nhận thức luận về quy luật và phương pháp hoạt động của mình. Có thể thấy: Tư duy là quá trình hoạt động suy nghĩ (một cách liên tục) để nhận thức và giải quyết vấn đề thông qua hoạt động phản ánh các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Đặc điểm cơ bản của tư duy Theo R.
Rubinstein [26], nhìn nhận từ quan điểm xem tư duy là mức độ nhận thức ở bậc cao, ta có thể rút ra những đặc điểm chủ yếu của tư duy. + Tư duy gắn liền với nhu cầu nhận thức (tính có vấn đề): Con người chỉ tư duy khi có nhu cầu nhận thức. Tư duy chỉ nảy sinh khi gặp tình huống “có vấn đề”, gặp khó khăn cần được tháo gỡ - khi mà phương pháp đã biết không đủ để giải quyết. Như vậy, muốn nảy sinh nhu cầu tư duy cần phải đưa con người vào tình huống có vấn đề.
+ Tính gián tiếp và lý tính của tư duy: Tư duy hướng đến nhận thức khái quát, thoát khỏi những kinh nghiệm cụ thể, cảm tính. Tức là, tìm cách phản ánh bản chất của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của chúng. Tư duy phản ánh sự vật hiện tượng (cụ thể hoặc gián tiếp trên những kinh nghiệm đã có) một cách gián tiếp thông qua ngôn ngữ tư duy (bên trong não và biểu hiện ra ngoài bằng ngôn ngữ) hoặc nhờ những công cụ, phương tiện thông tin khác (mà con người không thể hoặc không cần tri giác đối tượng một cách trực tiếp). + Tính trừu tượng và khái quát của tư duy: Tư duy khác với nhận thức cảm tính ở chỗ không phản ánh sự vật, hiện tượng một cách cụ thể và riêng lẻ.
Bằng cách trừu tượng hóa, tách khỏi những yếu tố cụ thể ở sự vật, hiện tượng để chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, rút ra những đặc trưng khái quát của chúng. + Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Tư duy gắn liền với ngôn ngữ của con người: Tư duy cần đến ngôn ngữ để vận hành và biểu đạt, ngược lại nhờ quá trình tư duy mà ngôn ngữ của con người hình thành và phát triển. Chú ý rằng: Tuy không tách rời nhau, nhưng tư duy và ngôn ngữ không phải là đồng nhất. Ngôn ngữ có tác dụng cố định, chính xác hóa sản phẩm của tư duy; làm cho nhận thức chung của con người có tính khách quan và chia sẻ được với nhau.
Mặt khác, tư duy xem như phương tiện để cho ngôn ngữ hoạt động. + Tư duy gắn bó với những đặc điểm nhân cách: Bởi tư duy chỉ có thể xảy ra ở mỗi con người, vì vậy gắn liền với nhu cầu, hứng thú, động cơ, khả năng nhận thức,. Mặc dù sản phẩm của tư duy hướng đến những hiểu biết khái quát, có tính quy luật chung cho mọi người, nhưng để tư duy 3 đúng đắn và hiệu quả, không thể tách rời những yếu tố liên quan đến hoạt động tư duy và những thao tác trí tuệ của bản thân mỗi con người. Các thao tác tư duy Xem xét tư duy theo các giai đoạn chỉ mới phản ánh được cấu trúc bên ngoài; còn nội dung bên trong của từng giai đoạn tư duy là quá trình diễn những thao tác tư duy.
Nói cách khác, các thao tác trí tuệ thể hiện các quy luật bên trong của tư duy. Theo ([17]; [43]), quá trình tư duy diễn ra thông qua các thao tác cơ bản như sau: Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần khác nhau từ đó vạch ra được những thuộc tính, những đặc điểm của đối tượng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể được hiển minh. Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tượng nhận thức đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tượng một cách bao quát, toàn diện hơn. Trong tư duy, tổng hợp là thao tác được xem là mang dấu ấn sáng tạo.
Khi nói người có “đầu óc tổng hợp” thì cũng tương tự như nói người có “đầu óc sáng tạo”. So sánh: là thao tác tư duy nhằm “xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng của hiện thực”. Nhờ so sánh người ta có thể tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. Ngoài ra còn tìm thấy những dấu hiệu bản chất và không bản chất thứ yếu của chúng.
Tương tự: là thao tác tư duy dựa trên sự giống nhau về tính chất và quan hệ của những đối tượng khác nhau. Trừu tượng hoá: trừu tượng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, và chỉ giữ lại những yếu tố đặc trưng, bản chất của đối tượng nhận thức. Khái quát hoá: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tượng. Kết quả của khái quát hoá là cho ra một đặc tính chung của hàng loạt các đối tượng cùng loại hay tạo nên nhận thức mới dưới hình thức khái niệm, định luật, quy tắc.