phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Một số biện pháp sƣ phạm nhằm phát triển TDST cho HS khá, giỏi lớp 12 trong DH giải toán về BĐT bằng PPHS. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TƢ DUY 1. Khái niệm tƣ duy Tƣ duy là một vấn đề thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều ngành khoa học và nhiều nhà nghiên cứu. Triết học nghiên cứu về TD dƣới góc độ lý luận nhận thức. Logic học nghiên cứu TD ở các quy tắc TD đúng.
Xã hội học nghiên cứu TD ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau. Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tƣ cách là nền tảng vật chất của các quá trình TD ở con ngƣời. Điều khiển học nghiên cứu TD để có thể tạo ra “Trí tuệ nhân tạo”. Tâm lí nghiên cứu diễn biến quá trình TD, mối quan hệ qua lại của TD với các khía cạnh khác của nhận thức.
Do đó cũng có khá nhiều khái niệm về TD. Theo các nhà triết học duy vật biện chứng, TD là sản phẩm cao cấp của một dạng vật chất hữu cơ có tổ chức cao, đó là bộ não con ngƣời. TD phản ánh tích cực thế giới khách quan bằng khái niệm, phán đoán, lý luận,… TD xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con ngƣời và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại. TD chỉ tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài ngƣời cho nên TD của con ngƣời đƣợc thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của TD đƣợc ghi nhận trong ngôn ngữ.
Tiêu biểu cho hoạt động TD là những quá trình nhƣ trừu tƣợng hóa, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chúng, việc đề xuất những giả thiết, những ý niệm. Kết quả của quá trình TD bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó. Theo quan niệm của Tâm lý học, TD là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác. TD phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng mà trƣớc đó ta chƣa biết.
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, “TD là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào cái bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lý”. Tóm lại, ta có thể hiểu về TD nhƣ sau: TD là sản phẩm của não bộ con người, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan vào trong bộ não người. Kết quả của TD bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể hiện qua ngôn ngữ. Các giai đoạn của quá trình TD Các giai đoạn của một quá trình TD bao gồm: + Xác định đƣợc tình huống có vấn đề và biểu đạt nó thành nhiệm vụ TD, hay nói cách khác là đặt ra câu hỏi để giải đáp.
+ Huy động các tri thức, kinh nghiệm đã có, liên tƣởng hình thành giả thuyết về cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi. + Xác minh giả thuyết trong thực tiễn. Nếu đúng thì tiếp tục sang bƣớc sau, nếu sai thì phủ định nó và hình thành giả thuyết mới. + Quyết định đánh giá kết quả, đƣa ra sử dụng.
Đặc điểm cơ bản của TD 1. Tính có vấn đề Khi gặp những tình huống mà với những hiểu biết cũ, PP cũ không đủ để giải quyết, lúc đó chúng ta rơi vào “tình huống có vấn đề” và chúng ta muốn vƣợt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để đi tìm cái mới có thể giải quyết đƣợc vấn đề. Nhƣ vậy “vấn đề” sẽ làm nảy sinh nhu cầu TD, kích hoạt TD. Tính phê phán + Tính phê phán của TD thể hiện ở khả năng đánh giá nghiêm túc những ý nghĩ và tƣ tƣởng của ngƣời khác và của bản thân mình, có tính hoài nghi khoa học, biết đặt câu hỏi: Tại sao? Thế nào?.
một cách đúng lúc, đúng chỗ. + Tính phê phán gắn liền với tính có vấn đề trong quá trình TD. Phê phán sẽ giúp nảy sinh vấn đề. Tính khái quát TD mang tính khái quát cao vì nó có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật hiện tƣợng.
Chẳng hạn, sau khi CM đƣợc 1 a 1 b 1 1 a b , a, b 0, HS có thể CM cho BT tổng quát của nó ở dạng: m2 A m 2 B m m 2 A B (với A, B là các biểu thức không âm, m là số nguyên dƣơng). Tính linh hoạt + Tính linh hoạt của TD thể hiện ở khả năng chuyển hƣớng quá trình TD. + Khả năng chuyển hƣớng của TD có thể là khả năng đảo ngƣợc quá trình TD, lấy cái đích của một quá trình đã biết làm điểm xuất phát cho một quá trình mới, còn điểm xuất phát của một quá trình đã biết lại trở thành đích của quá trình mới. + Khả năng chuyển hƣớng quá trình TD còn có thể là khả năng chuyển từ hƣớng 6 này sang một hƣớng khác không nhất thiết phải ngƣợc với hƣớng ban đầu.
Tính độc lập tương đối của TD Trong quá trình sống con ngƣời luôn giao tiếp với nhau, nên TD của mỗi ngƣời vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu tác động biến đổi từ TD của đồng loại thông qua những hoạt động có tính vật chất. Nhƣ vậy, TD không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể ngƣời mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn giữ duy trì đƣợc tính cá thể của mỗi ngƣời nhất định. Vì thế, mặc dù đƣợc tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn, nhƣng TD của con ngƣời có tính độc lập tƣơng đối. Mối quan hệ giữa TD và ngôn ngữ TD có quan hệ không thể tách rời với ngôn ngữ.
TD phải đƣợc thể hiện qua hình thức ngôn ngữ, đƣợc hoàn thiện trong sự trao đổi bằng ngôn ngữ của con ngƣời. Ngƣợc lại ngôn ngữ đƣợc hình thành nhờ có TD. Vì vậy phát triển TD phải gắn liền với việc rèn luyện ngôn ngữ chính xác. Mối quan hệ giữa TD và nhận thức + TD là kết quả của nhận thức, đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận thức.
Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu tƣợng đƣợc phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tƣợng bên ngoài đƣợc phản ánh một cách riêng lẻ. Giai đoạn này gọi là TD cụ thể. + Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động TD tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp,. những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến, lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung và bản chất của sự vật, hiện tƣợng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật,.
Giai đoạn này gọi là giai đoạn TD trừu tƣợng. Các loại hình TD Có nhiều cách phân loại TD dựa trên những tiêu chí khác nhau. Phân loại theo cách thể hiện, gồm: TD bằng hình tƣợng và TD bằng ngôn ngữ 1. Phân loại theo cách vận hành, gồm: TD kinh nghiệm, TDST, TD phân tích, TD tổng hợp.
Phân loại theo tính chất, gồm: TD rộng hay hẹp, TD nông hay sâu, TD lôgic, TD phi lôgic, TD đơn giản hay phức tạp, TD lý luận. Phân loại theo nội dung, gồm: TD khoa học, TD nghệ thuật, TD triết học, TD tín ngƣỡng. Theo tâm lý học, có thể phân chia thành ba loại hình TD: * TD trực quan (cụ thể). Trong loại hình này có thể phân ra thành TD trực quan – hành động và TD trực quan – hình ảnh.
+ TD trực quan – hành động là TD bằng các thao tác chân tay đối với vật chất, hƣớng vào giải quyết một số tình huống cụ thể trực quan. + TD trực quan – hình ảnh là TD mà việc giải quyết vấn đề dựa vào các hình ảnh của sự vật, hiện tƣợng. * TD trừu tƣợng (còn gọi là TD ngôn ngữ - lôgic) là TD mà việc giải quyết vấn đề dựa vào các khái niệm, các mối quan hệ lôgic gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phƣơng tiện. * TD trực giác là TD đặc trƣng bởi trực tiếp nắm bắt đƣợc chân lý một cách bất ngờ, đột nhiên, chớp nhoáng, không dựa vào hoạt động lôgic của ý thức.
TD trực giác gắn với tƣởng tƣợng (là quá trình nhận thức phản ánh những cái chƣa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu hiện đã có). Sản phẩm của TD trực giác mang tính chất dự báo, phải kiểm tra tính đúng đắn (bằng thực nghiệm và lôgic). Tuy nhiên sản phẩm của TD trực giác thƣờng dẫn đến những nhận thức độc đáo, mới mẻ, ST. Phân loại TD theo đối tượng của TD, gồm: TD chính trị, TD kinh tế, TD văn học, TD Toán học, TD nghệ thuật.
Trong đó, TD toán học gồm những loại hình TD nhƣ: TD trừu tƣợng, TD lôgic, TD thuật toán, TD hàm, TD sáng tạo,. Do tính trừu tƣợng cao của toán học mà TD toán học có đặc thù riêng: A.M Phridman cho rằng: “TD toán học là TD lý thuyết trừu tượng cao nhất, các đối tượng của nó có thể được mô hình hóa, vứt bỏ tất cả các tính vật chất và chỉ giữ lại những quan hệ đã cho giữa chúng” I.Khin chin nêu ra 4 tính chất đặc trƣng của TD toán học: + Suy luận theo sơ đồ lôgic chiếm ưu thế. + Tính rút gọn của quá trình suy luận. + Tính phân chia rõ ràng của quá trình suy luận.
+ Tính hết sức chính xác của các kí hiệu được sử dụng trong quá trình suy luận. Tham khảo Chƣơng VI - TD toán học ([11], Tr. 54-117), các tác giả đã viết: * Đối tƣợng TD trong DH môn toán: Toán học là đối tƣợng của hoạt động TD.