Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khái niệm hàm số giữ vị trí trung tâm trong toán học hiện đại và xuyên suốt chương trình môn Toán ở trường phổ thông Việt Nam, từ các hệ thống số, biến đổi đồng nhất, phương trình, bất phương trình cho đến hình học. Đến lớp 10, khái niệm hàm số được trình bày hoàn chỉnh trong chương trình Sách giáo khoa (SGK) Đại số 10: từ định nghĩa, sự biến thiên, tính chẵn lẻ, đồ thị cho đến việc nghiên cứu chuyên sâu hai hàm số cụ thể là hàm số bậc nhất $y = ax + b$ (§2) và hàm số bậc hai $y = ax^2 + bx + c$ (§3) ở Chương II.

Tuy nhiên, thực tiễn dạy học môn Toán lớp 10 cho thấy tồn tại một bất cập lớn: sau khi dạy xong Chương II (Hàm số), bước sang Chương III (Phương trình và Hệ phương trình) và Chương IV (Bất đẳng thức và Bất phương trình), nhiều giáo viên có xu hướng tách biệt hoàn toàn nội dung phương trình, bất phương trình với hàm số. Việc dạy học chủ yếu dựa vào các công thức nghiệm, quy tắc biến đổi và thuật toán thuần túy (như định lý thuận đảo về dấu của tam thức bậc hai, các phép biến đổi đại số cồng kềnh). Tình trạng này tạo ra sự ngăn cách giả tạo giữa các chương trong cùng một cuốn sách giáo khoa, khiến học sinh bỏ quên kiến thức về hàm số và mất đi một công cụ tư duy hữu hiệu để tiếp cận và giải quyết các bài toán đại số phức tạp. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài "Phát triển tư duy hàm của học sinh lớp 10 trung học phổ thông trong khi dạy học hàm số, phương trình và bất phương trình" được thực hiện nhằm khắc phục sự ngăn cách này và hình thành tư duy hàm cho học sinh ngay từ lớp 10.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa những nội dung dạy học hàm số, phương trình và bất phương trình thuộc chương trình Đại số 10 có khả năng phát triển tư duy hàm cho học sinh. Để thực hiện mục đích này, khóa luận xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng với 5 câu hỏi khoa học:

  1. Tư duy hàm là gì và tại sao phát triển tư duy hàm lại bắt đầu từ lớp 10?
  2. Có các biện pháp chủ đạo nào trong môn Toán đủ để hình thành và phát triển tư duy hàm của học sinh?
  3. Hệ thống các bài toán nào về phương trình ở Đại số 10 ngầm ẩn khả năng phát triển tư duy hàm?
  4. Hệ thống các bài toán nào về bất phương trình ở Đại số 10 ngầm ẩn khả năng phát triển tư duy hàm?
  5. Hệ thống các bài toán nào về tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất ở Đại số 10 ngầm ẩn khả năng phát triển tư duy hàm?

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy học hàm số, phương trình và bất phương trình nhằm phát triển tư duy hàm cho học sinh lớp 10. Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung tập trung vào mạch kiến thức Đại số 10 (Chương II, Chương III và Chương IV); phạm vi không gian và địa bàn khảo sát, thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại trường Trung học phổ thông (THPT) Triệu Sơn 1.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc phân tích lịch sử toán học, lý luận dạy học môn Toán của GS.TSKH Nguyễn Bá Kim và chương trình SGK Đại số 10. Hàm số được nhìn nhận dưới ba đặc trưng bản chất: "phụ thuộc", "biến thiên" và "tương ứng". Tác giả đưa ra định nghĩa tường minh: Tư duy hàm là một quá trình tư duy toán học diễn ra đồng thời bốn hoạt động:

  • Hoạt động 1 (HĐ1): Nhận biết những quy tắc tương ứng gặp phải có phải là một hàm hay một hàm số hay không (hoạt động ngầm ẩn).
  • Hoạt động 2 (HĐ2): Bao gồm việc phát hiện sự tương ứng đơn trị giữa hai đại lượng biến thiên trong hoàn cảnh có nhiều đại lượng biến thiên (HĐ2a), từ đó thiết lập quy tắc tương ứng giữa hai đại lượng đó dưới dạng một hàm số (HĐ2b).
  • Hoạt động 3 (HĐ3): Nghiên cứu các hàm, hàm số đã thiết lập được (tập trung vào khảo sát sự biến thiên và tìm các yếu tố bất biến).
  • Hoạt động 4 (HĐ4): Lợi dụng kết quả nghiên cứu hàm số để giải quyết vấn đề bài toán đặt ra.

Chuỗi liên kết HĐ2 $\rightarrow$ HĐ3 $\rightarrow$ HĐ4 cấu thành một thao tác tư duy hàm hoàn chỉnh. Tư duy hàm có mối quan hệ hữu cơ với tư duy biện chứng (là biểu hiện cụ thể, sinh động của tư duy biện chứng), dẫn đường cho tư duy thuật toán và thống nhất với tư duy lôgic hình thức. Dựa trên 4 tư tưởng phát triển tư duy hàm của GS.TSKH Nguyễn Bá Kim, khóa luận đề xuất 5 biện pháp sư phạm chủ đạo:

  • Biện pháp 1: Phát hiện những hoạt động tương thích với nội dung hàm số cần dạy (đáp ứng 3 tính chất về môi trường tương thích: trình độ xuất phát, tâm sinh lý học sinh, điều kiện cơ sở vật chất).
  • Biện pháp 2: Phân bậc những hoạt động tương thích (dựa vào độ phức tạp của hàm số, mức độ trừu tượng hóa - khái quát hóa, và mức độ độc lập, thành thạo của học sinh).
  • Biện pháp 3: Tìm hiểu và nắm được diễn biến tư duy toán học, nhận diện các "điểm then chốt" – nơi học sinh dễ bế tắc, sai lầm hoặc mất phương hướng giải quyết.
  • Biện pháp 4: Thực hiện gợi động cơ nội bộ toán học cho hoạt động tư duy hàm (mở đầu, trung gian, kết thúc).
  • Biện pháp 5: Điều hành quá trình dạy học thông qua ba chức năng: ủy thác, điều khiển và thể chế hóa tri thức.

Khóa luận sử dụng kết hợp 4 phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích SGK, sách chuyên đề Đại số 10, các công trình nghiên cứu phương pháp dạy học môn Toán và tài liệu rèn luyện tư duy toán học.
  • Phương pháp điều tra cơ bản: Thăm dò ý kiến giáo viên tại một số trường THPT và khảo sát kỹ năng giải toán của học sinh tại trường THPT Triệu Sơn 1 qua 2 bài kiểm tra 15 phút.
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Sưu tầm, sàng lọc, phân loại hệ thống bài toán từ thực tiễn giảng dạy và tài liệu chuyên môn, sau đó soi sáng dưới góc độ lý luận tư duy hàm.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Trực tiếp giảng dạy và phối hợp với giáo viên trường THPT Triệu Sơn 1 tiến hành dạy học thực nghiệm và ra đề kiểm tra đánh giá.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm chương trình, SGK môn Toán các cấp (từ Tiểu học đến THPT, trọng tâm là lớp 10), phiếu điều tra ý kiến giáo viên và kết quả bài làm khảo sát, thực nghiệm của học sinh trường THPT Triệu Sơn 1.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về tư duy hàm và thực tiễn sư phạm

Chương 1 trình bày khái quát lịch sử hình thành và phát triển khái niệm hàm số qua các thời kỳ: thời cổ đại (Babylon với bảng bình phương, căn bậc hai, bậc ba; Hy Lạp với bảng sin mang tính phụ thuộc ngầm ẩn); thời trung đại (mô tả định tính sự phụ thuộc cơ học qua bảng số và hình học); thế kỷ 16-17 (René Descartes nêu sự phụ thuộc giữa các biến số tọa độ; Gottfried Wilhelm Leibniz đưa ra thuật ngữ "functio" vào tháng 8/1673); thế kỷ 18 (Johann Bernoulli năm 1718, Jean le Rond d'Alembert năm 1748 và Leonhard Euler năm 1755 coi hàm số là biểu thức giải tích); nửa đầu thế kỷ 19 (Peter Gustav Lejeune Dirichlet định nghĩa hàm số thông qua sự tương ứng đơn trị, đưa ra ví dụ hàm Dirichlet); cuối thế kỷ 19 - thế kỷ 20 (Georg Cantor đưa lý thuyết tập hợp vào định nghĩa hàm số như một quy tắc tương ứng giữa hai tập hợp).

Tiếp đó, chương này phân tích quá trình đưa khái niệm hàm số vào SGK Việt Nam qua hai giai đoạn: giai đoạn ngầm ẩn (trước lớp 7, từ các bảng số, biểu thức có chữ, đại lượng tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch đến công thức chuyển động) và giai đoạn tường minh (từ lớp 7 đến lớp 12). Khái niệm hàm số được định nghĩa tường minh lần đầu ở lớp 7, mở rộng ở lớp 9 và hoàn chỉnh theo lý thuyết tập hợp tại lớp 10. Tác giả luận giải vị trí trung tâm của hàm số trong việc thống nhất nội dung giáo trình Toán phổ thông.

Chương 1 cũng định nghĩa chi tiết tư duy hàm, làm rõ cấu trúc 4 hoạt động thành phần và mối quan hệ với các dạng tư duy khác, đồng thời trình bày cụ thể nội dung 5 biện pháp sư phạm chủ đạo. Đánh giá thực trạng tại trường THPT Triệu Sơn 1 cho thấy đa số giáo viên chưa chú ý bồi dưỡng tư duy hàm ở lớp 10 vì quan niệm công cụ này chỉ phát huy ở lớp 12 khi có đạo hàm, dẫn đến tình trạng vốn bài tập về tư duy hàm còn nghèo nàn, thiên về thuật toán đại số.

Chương 2: Phát triển tư duy hàm của học sinh lớp 10 trong khi dạy học hàm số, phương trình và bất phương trình

Chương 2 là chương trọng tâm về mặt chuyên môn, thiết kế và phân loại hệ thống bài tập Đại số 10 nhằm rèn luyện tư duy hàm theo chuỗi 4 hoạt động trí tuệ. Hệ thống được tổ chức thành 3 nhóm nội dung chính:

  • Phát triển tư duy hàm qua 5 loại bài toán về phương trình.
  • Phát triển tư duy hàm qua 3 loại bài toán về bất phương trình.
  • Phát triển tư duy hàm qua 2 loại bài toán về tìm giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất.

Trong các bài toán về phương trình, tác giả phân tích các dạng điển hình:

  • Loại bài toán 1: Sử dụng kỹ thuật hoán đổi biến và tham số. Đối với phương trình nhiều biến hoặc phương trình bậc cao chứa tham số, học sinh coi một đại lượng là biến số và đại lượng còn lại là tham số để đưa về phương trình bậc hai (HĐ2), sau đó tính biệt thức $\Delta$ hoặc $\Delta'$ (HĐ3) và dùng điều kiện có nghiệm $\Delta \ge 0$ để tìm nghiệm (HĐ4). Điển hình là các bài toán: tìm cặp số $(x, y)$ thỏa mãn $5x^2 + 2y^2 - 6xy + 8x - 6y + 5 = 0$; biểu diễn $x$ theo $m$ từ phương trình bậc ba $x^3 - (1+m)x^2 - (5m+8)x + m^2 - m - 12 = 0$ bằng cách chuyển về phương trình bậc hai ẩn $m$; giải phương trình nhiều ẩn $8x^2 + 4(y^2+y-10)x + y^4 - 11y^2 - 8y + 52 = 0$.
  • Loại bài toán 2: Giải phương trình dạng $f(x) = g(x)$ bằng cách nghiên cứu miền giá trị và tính đơn điệu. Học sinh thiết lập hai hàm số $f(x)$ và $g(x)$, sử dụng các bất đẳng thức Cauchy, Bunhiacôpxki hoặc khảo sát sự biến thiên qua bảng biến thiên để chứng minh $\min f(x) \ge c$ và $\max g(x) \le c$, từ đó suy ra nghiệm duy nhất khi dấu bằng đồng thời xảy ra, hoặc chứng minh phương trình vô nghiệm khi hai miền giá trị không giao nhau. Các ví dụ minh họa gồm giải phương trình vô tỉ $\sqrt{x^2 - 2x + 26} = -x^2 + 4x + 1$, các phương trình căn thức bậc cao như $\sqrt{5-x^6} - \sqrt[3]{3x^4-2} = 1$, hoặc phương trình bậc cao $(x-1)^6 + (x-2)^6 = 1$.
  • Loại bài toán 3: Biện luận số nghiệm của phương trình $f(x) = m$ dựa vào bảng biến thiên của hàm số chứa dấu giá trị tuyệt đối. Điển hình là khảo sát sự biến thiên của hàm số $y = x|x - 3| - 4$ hoặc $y = |x^2 + 4x - 12|$ bằng cách phá dấu giá trị tuyệt đối trên từng khoảng, ghép bảng biến thiên của từng hàm thành phần và đọc số giao điểm với đường thẳng $y = m$ trực tiếp trên bảng biến thiên mà không cần vẽ toàn bộ đồ thị.
  • Loại bài toán 4: Giải và biện luận phương trình thông qua việc đặt ẩn phụ $t = \varphi(x)$. Học sinh xác định tập giá trị $K$ của ẩn phụ $t$, quy bài toán về khảo sát hàm số bậc hai $f(t) = m$ trên miền $K$, từ đó dựa vào đỉnh parabol và bảng biến thiên để tìm điều kiện có nghiệm hoặc vô nghiệm của tham số $m$. Điển hình là phương trình vô tỉ dạng $2m - \sqrt{4-x} = x - 1$ hoặc phương trình chứa căn thức phức tạp đưa về tam thức bậc hai theo $t$.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc tổ chức thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Triệu Sơn 1 nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài. Tác giả xác định mục đích thực nghiệm là đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệ thống bài toán và các biện pháp sư phạm đã đề xuất trong việc nâng cao khả năng vận dụng tư duy hàm của học sinh. Nội dung thực nghiệm tập trung vào tiến trình tổ chức dạy học các chủ đề phương trình, bất phương trình và bài toán cực trị có sử dụng phương pháp hàm số.

Chương này thiết kế các đề kiểm tra thực nghiệm sư phạm sau quá trình can thiệp dạy học, tiến hành chấm điểm, thống kê số liệu kết quả làm bài, so sánh đối chứng giữa các phương án xử lý bài toán của học sinh (sử dụng tư duy hàm so với thuật toán đại số thuần túy) và rút ra các nhận xét sư phạm khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã khảo sát thực trạng nhận thức và kỹ năng giải toán của học sinh lớp 10 trường THPT Triệu Sơn 1 thông qua hai bài kiểm tra 15 phút trước khi tiến hành thực nghiệm. Kết quả khảo sát cho thấy sự hạn chế rõ rệt khi học sinh chỉ dựa vào các thuật toán đại số:

Nội dung bài kiểm tra khảo sát Yêu cầu bài toán Cách tiếp cận chủ yếu của học sinh Tỷ lệ HS dùng phương pháp hàm số
Bài kiểm tra 1 (15 phút) Tìm điều kiện của $m$ để phương trình có nghiệm: $2m - \sqrt{4-x} = x - 1$ Bình phương hai vế đưa về phương trình bậc hai, thường quên hoặc đặt sai điều kiện của $x$, dẫn đến kết luận sai. Khoảng 20%
Bài kiểm tra 2 (15 phút) Tìm $m$ để bất phương trình nghiệm đúng $\forall x \in [0; 1]$: $x^2 + mx - 2m > 4$ Dùng định lý thuận đảo về dấu tam thức bậc hai, chia 3 trường hợp của biệt thức $\Delta$ ($\Delta < 0; \Delta = 0; \Delta > 0$), lời giải dài và dễ nhầm lẫn. Khoảng 30%

Dựa trên kết quả khảo sát, tác giả đã xây dựng hệ thống giải pháp sư phạm hoàn chỉnh:

  • Đề xuất 5 biện pháp sư phạm dẫn đường cho giáo viên trong việc thiết kế và điều hành giờ học Đại số 10 theo quan điểm hoạt động.
  • Hệ thống hóa và phân bậc chi tiết hệ thống bài toán Đại số 10 thành 5 loại bài toán phương trình, 3 loại bài toán bất phương trình và 2 loại bài toán cực trị, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng phát hiện quan hệ tương ứng đơn trị, thiết lập hàm phụ và khai thác bảng biến thiên.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của công cụ bảng biến thiên: học sinh có thể biện luận chính xác số nghiệm của phương trình chứa tham số thông qua việc lập bảng biến thiên mà không cần mất nhiều thời gian vẽ đồ thị tọa độ phức tạp.

Đóng góp khoa học của khóa luận thể hiện ở việc cụ thể hóa khái niệm tư duy hàm thành quy trình 4 hoạt động tường minh, có thể thao tác hóa trong dạy học môn Toán; chứng minh được rằng việc phát triển tư duy hàm hoàn toàn có thể và cần thiết thực hiện ngay từ lớp 10 bằng các công cụ hàm số bậc nhất và bậc hai, không cần chờ đợi đến khi học đạo hàm ở lớp 12; đồng thời phá bỏ sự ngăn cách hình thức giữa các chương trong sách giáo khoa Đại số 10.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi triển khai:

  • Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ mới được tiến hành trong phạm vi trường THPT Triệu Sơn 1, chưa mở rộng ra nhiều trường THPT thuộc các khu vực địa lý khác nhau để so sánh tính tương thích của hệ thống biện pháp trên diện rộng.
  • Phạm vi nội dung nghiên cứu mới chỉ tập trung khai thác mạch kiến thức Đại số 10 (hàm số bậc nhất, hàm số bậc hai, phương trình và bất phương trình đại số), chưa mở rộng sang các nội dung Hình học 10 (phương pháp tọa độ) hay các mạch kiến thức giải tích lớp 11 và 12.

Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở:

  • Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm sang các trường THPT có điều kiện dạy học và đối tượng học sinh đa dạng hơn nhằm chuẩn hóa hệ thống bài tập phân bậc.
  • Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng tư duy hàm vào việc dạy học các chủ đề khác trong chương trình toán trung học phổ thông, bao gồm phương trình lượng giác, hàm số mũ, hàm số lôgarit, cấp số cộng, cấp số nhân và bài toán cực trị hình học.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng trong nghiên cứu và giảng dạy toán học:

  • Sinh viên ngành Sư phạm Toán học: Có thể tham khảo cơ sở lý luận về tư duy hàm, quy trình phân tích chương trình SGK phổ thông theo quan điểm hoạt động của GS.TSKH Nguyễn Bá Kim, và phương pháp thiết kế các pha dạy học (ủy thác - điều khiển - thể chế hóa).
  • Giáo viên môn Toán tại các trường THPT: Có thể khai thác trực tiếp hệ thống bài toán phân loại ở Chương 2 làm tư liệu giảng dạy Đại số 10, đặc biệt là các chuyên đề bồi dưỡng học sinh khá giỏi về phương trình vô tỉ, phương trình chứa tham số, bất đẳng thức và bài toán tìm cực trị. Kỹ thuật chuyển đổi biến - tham số và kỹ thuật biện luận nghiệm bằng bảng biến thiên là những nội dung có giá trị ứng dụng thực tiễn cao trong giảng dạy trên lớp.
  • Học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học môn Toán: Tham khảo mô hình nghiên cứu kết hợp giữa lịch sử toán học, phân tích cấu trúc chương trình SGK, điều tra thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm đối chứng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm tư duy hàm được tác giả định nghĩa gồm những hoạt động cụ thể nào?
Tư duy hàm được định nghĩa là quá trình tư duy toán học diễn ra đồng thời 4 hoạt động: HĐ1 là nhận biết quy tắc tương ứng gặp phải có phải là hàm/hàm số hay không; HĐ2 gồm phát hiện sự tương ứng đơn trị giữa hai đại lượng biến thiên (HĐ2a) và thiết lập quy tắc tương ứng hàm số (HĐ2b); HĐ3 là nghiên cứu hàm số đã thiết lập (khảo sát biến thiên, tìm bất biến); HĐ4 là lợi dụng kết quả nghiên cứu hàm số để giải quyết vấn đề đặt ra.

2. Tại sao tác giả khẳng định việc phát triển tư duy hàm cần bắt đầu ngay từ lớp 10 thay vì chờ đến lớp 12?
Nhiều giáo viên quan niệm phải chờ đến lớp 12 khi học sinh học công cụ đạo hàm mới có thể bồi dưỡng tư duy hàm. Tác giả phản biện quan niệm này vì chương trình Đại số 10 đã trang bị hoàn chỉnh định nghĩa hàm số, tính đơn điệu, bảng biến thiên và nghiên cứu sâu hai hàm số nền tảng (bậc nhất và bậc hai). Việc bồi dưỡng ngay từ lớp 10 giúp học sinh có phương thức tư duy giải quyết ngắn gọn, chặt chẽ các bài toán phương trình, bất phương trình và cực trị, đồng thời xóa bỏ sự ngăn cách giả tạo giữa các chương trong sách giáo khoa.

3. Khảo sát thực trạng tại trường THPT Triệu Sơn 1 ghi nhận tỷ lệ học sinh sử dụng phương pháp hàm số như thế nào?
Qua 2 bài kiểm tra 15 phút khảo sát thực trạng, chỉ có khoảng 20% học sinh biết sử dụng phương pháp hàm số ở bài toán tìm điều kiện tham số của phương trình vô tỉ ($2m - \sqrt{4-x} = x - 1$), và khoảng 30% học sinh biết dùng hàm số ở bài toán bất phương trình nghiệm đúng trên đoạn ($x^2 + mx - 2m > 4$). Đa số học sinh còn lại giải bằng thuật toán bình phương hoặc xét dấu tam thức bậc hai dẫn đến lời giải dài dòng, phức tạp và dễ sai sót.

4. Khái niệm "điểm then chốt" trong Biện pháp 3 được tác giả lý giải ra sao?
"Điểm then chốt" là vị trí trong nội dung bài dạy mà tại đó tư duy của học sinh thường dễ suy nghĩ theo hướng dẫn đến bế tắc, dễ mắc sai lầm, mất phương hướng giải quyết, hoặc sa đà vào các phép biến đổi dài dòng, sơ ý bỏ sót trường hợp. Việc dự đoán chính xác các điểm then chốt giúp giáo viên chủ động điều khiển quá trình học tập của học sinh.

5. Chương 2 phân loại các bài toán Đại số 10 thành những nhóm nội dung nào nhằm rèn luyện tư duy hàm?
Hệ thống bài tập Chương 2 được chia thành 3 nhóm lớn: 5 loại bài toán về phương trình (hoán đổi biến - tham số, đánh giá miền giá trị và tính đơn điệu, biện luận số nghiệm bằng bảng biến thiên, giải và biện luận bằng ẩn phụ); 3 loại bài toán về bất phương trình; và 2 loại bài toán về tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã giải quyết trọn vẹn vấn đề phát triển tư duy hàm cho học sinh lớp 10 thông qua việc gắn kết hữu cơ mạch kiến thức hàm số với phương trình và bất phương trình trong chương trình Đại số 10. Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc, xây dựng định nghĩa 4 hoạt động của tư duy hàm, đề xuất 5 biện pháp sư phạm chỉ đạo và thiết lập hệ thống bài tập phân bậc chi tiết. Kết quả điều tra thực trạng và thực nghiệm tại trường THPT Triệu Sơn 1 khẳng định tính khả thi của giải pháp, cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác giảng dạy môn Toán ở trường phổ thông.