CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng cá nhân tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về tín dụng cá nhân Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ gốc Latinh Creditium có nghĩa là một sự tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Lý Hoàng Ánh – Lê Thị Mận (2013) cho rằng tín dụng là “sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người cho vay (người sở hữu) sang người đi vay (người sử dụng) và khi đến hạn phải hoàn trả lại một lượng giá trị lớn hơn cái ban đầu”.
Tại Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trên cơ sở định nghĩa nêu trên và phạm vi nghiên cứu của luận văn này, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình, có thể hiểu tín dụng cá nhân là “hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể”. Hiện nay xu hướng sử dụng vốn trước, trả sau để đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Chính vì thế các sản phẩm tín dụng cá nhân của ngân hàng được mọi người rất quan tâm.
Tín dụng cá nhân đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao, để đáp ứng nhu cầu vốn tiêu dùng hoặc kinh doanh của cá nhân và hộ gia đình. Đặc điểm của tín dụng cá nhân TDCN tồn tại và phát triển song song với các loại hình tín dụng khác. Ngoài những đặc điểm chung, TDCN còn có những đặc điểm mang tính đặc trưng sau: Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn So với việc cho vay doanh nghiệp, giá trị các khoản cho vay cá nhân không lớn. Điều này một phần do giá trị hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải.
Mặt khác, đa số các khách hàng vay vốn đã có sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên, số lượng các khoản tín dụng cá nhân là rất lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp. Khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. Tín dụng cá nhân thường tiềm ẩn các rủi ro - Rủi ro phát sinh từ phía khách hàng vay: Tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch của khách hàng: Đối với khách hàng cá nhân vay vốn, tình trạng nợ nần bên ngoài nhiều nhưng không khai báo hoặc khai báo nhưng che dấu bớt, không trung thực với NH khi vay vốn là một nguy cơ rủi ro đối với ngân hàng.
Về mặt tài chính nếu khách hàng không cung cấp số liệu một cách trung thực, cố tình che giấu thì sẽ rất khó cho cán bộ NH trong khâu thẩm định. Thực tế thời gian qua đã cho thấy phần nhiều trong số rủi ro tín dụng nói chung và tín dụng cá nhân nói riêng xuất phát từ những khách hàng có tình hình tài chính yếu kém, không lành mạnh. Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Một số khách hàng vay vốn NH dưới danh nghĩa tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh, nhưng khi nhận vốn về lại sử dụng vào mục đích khác, nguy hiểm nhất là tham gia vào những hoạt động kinh doanh mạo hiểm, chứa đựng rủi ro cao, kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật cấm, hay sử dụng vốn để trả nợ, cờ bạc, ăn chơi. 3 Kết quả là thất thoát vốn vay, đời sống người vay không được cải thiện, cộng với KH không thiện chí trả nợ, dẫn đến rủi ro cho phía NH.
Mặc dù trên thực tế đối tượng KH này là không nhiều, nhưng những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các KH khác. Rủi ro liên quan đến TSĐB nợ vay: Có trường hợp KH lừa đảo, sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyển sở hữu tài sản giả để thế chấp vay vốn. Hay các tài sản đang có tranh chấp hoặc tài sản đang bị kê biên để thi hành án nhưng vẫn mang ra để thế chấp vay vốn. Việc này rất nguy hiểm vì ảnh hưởng trực tiếp đến đảm bảo khoản vay.
Ngoài ra còn một số rủi ro khác từ phía khách hàng không dự đoán trước được như: thiên tai, dịch bệnh, ốm đau, tử nạn, v.v… làm cho khách hàng lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính như sự sụt giảm hay mất hẳn thu nhập. Dẫn đến không có khả năng trả nợ cho ngân hàng. - Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay Rủi ro phát sinh do tiêu cực của cán bộ hay do trình độ năng lực yếu kém: Bố trí cán bộ thiếu đạo đức vào làm công tác thẩm định cho vay, dẫn đến tình trạng tiêu cực, mà phổ biến nhất là tình trạng cán bộ tín dụng lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng hay nhận hối lộ tiền của khách hàng rồi thẩm định sơ sài, nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để cho vay cao, không tuân thủ quy trình tín dụng. Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có biện pháp đảm bảo bằng tài sản.
Trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ gây tổn thất lớn cho ngân hàng. Thực hiện không tốt việc thẩm định, giám sát và quản lý trong và sau khi cho vay: Việc thẩm định các điều kiện vay vốn trước khi cho vay là rất quan trọng để đi đến quyết định tín dụng. Tuy nhiên vấn đề giám sát và quản lý khoản vay trong quá trình giải ngân và sau khi cho vay cũng quan trọng không kém, vì hiện trạng của món vay luôn thay đổi theo thời gian. Không làm tốt việc kiểm tra sau khi cho vay sẽ không giúp ngân hàng phát hiện và chủ động giảm thiểu rủi ro tín dụng.
4 Bên cạnh những nguyên nhân trên còn có những nguyên nhân do yếu tố môi trường gây ra, mà cụ thể là môi trường kinh tế và môi trường pháp luật: Môi trường kinh tế: - Rủi ro phát sinh do nền kinh tế rơi vào suy thoái, khủng hoảng, dẫn đến thất nghiệp gia tăng, người vay gặp khó khăn về tài chính, không có khả năng trả nợ NH. - Tình trạng lạm phát của nền kinh tế làm cho thu nhập thực tế của người dân giảm sút, họ sẽ ưu tiên chi cho đời sống, giảm khoản chi trả nợ NH dẫn đến rủi ro. Môi trường pháp lý: Cụ thể ở đây là do sự kém hiệu quả của cơ quan thực thi pháp luật. Trong những năm qua, Quốc hội, Chính phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng NH.
Song việc triển khai vào hoạt động NH thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ. Các văn bản này có quy định: Trong những hợp KH không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý TSĐB nợ vay. Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì NH là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc KH bàn giao tài sản đảm bảo cho NH để xử lý. Tín dụng cá nhân tốn kém nhiều chi phí để phát triển.
Do khách hàng cá nhân số lượng nhiều và phân tán rộng nên để các NH duy trì và phát triển tín dụng cá nhân sẽ tốn kém nhiều chi phí như: - Chi phí mở rộng mạng lưới hệ thống, chi phí quảng cáo, tiếp thị tới từng địa bàn, khu vực tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân - Chi phí phát triển nguồn nhân lực đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác. - KHCN đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ. Để đáp ứng NH phải đảm bảo có nguồn lực nhân sự lớn và trình độ năng lực cao, công nghệ hiện đại. - Ngoài ra còn có các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, điện nước, văn 5 phòng phẩm, công tác phí hỗ trợ cán bộ tín dụng.
Vai trò của tín dụng cá nhân Có thể nói rằng hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế, dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng đều được hưởng những lợi ích do hoạt động của ngân hàng mang lại. Hoạt động tín dụng cá nhân cũng không là ngoại lệ khi có những vai trò sau đây: Đối với khách hàng Đáp ứng kịp thời vốn của khách hàng cá nhân, đặc biệt đối với các khoản vay có nhu cầu chi tiêu có tính chất cấp bách, nhờ đó khách hàng có thể được sử dụng các tiện ích trước khi tích lũy đủ số tiền cần thiết. Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay, nhu cầu tiêu dùng và sản xuất kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình là vô cùng lớn. Tuy nhiên họ lại cần thời gian tích lũy để chi trả cho những nhu cầu đó.