Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước 1. Các nghiên cứu lý thuyết Đã có nhiều lý thuyết của các nhà kinh tế học đề cập đến các vấn đề liên quan đến thị trường lao động từ các trường phái cổ điển cho đến các trường phái hiện đại. Các lý thuyết về thị trường lao động nhìn chung hướng tới việc làm rõ các yếu tố cấu thành của thị trường lao động.
Kinh tế học cổ điển do William Petty khai sinh, sau đó được Adam Smith, David Ricardo và các nhà khoa học khác phát triển đã có những cơ sở đầu tiên về lao động khi phân tích những nguyên lý kinh tế thị trường dựa trên phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và các nguồn lực. Trường phái này đã đặt phạm trù lao động vào trung tâm của nghiên cứu kinh tế. Đây là quá trình nhận diện khoa học về lao động, về thị trường lao động. Trong tác phẩm “An inquiry into the nature and causes of the wealth of nations” Adam Smith đã chứng minh nguồn gốc của mọi sự giàu có là lao động và lao động tạo ra giá trị, xác định không chỉ lương, mà cả lợi nhuận và lợi tức: “Lao động xác định giá trị không chỉ là một phần giá cả được tính vào lương, mà cả những phần được tính vào lợi nhuận và lợi tức” [1].
Trong tác phẩm “Các nguyên lý kinh tế học” (1980), Alfred Marshall cho rằng, để đảm bảo việc làm thì vấn đề điều tiết cung - cầu lao động có ý nghĩa rất quan trọng: “Khi cung và cầu ở trong tình trạng cân bằng bền vững, thì trong trường hợp, nếu khối lượng sản xuất nào đó được dịch chuyển khỏi trạng thái cân bằng của nó, các sức mạnh nhanh chóng bắt đầu hoạt động thúc đẩy nó quay trở lại vị trí trước đây, cũng chính xác như khi hòn đá treo sợi dây di chuyển khỏi trạng thái cân bằng, nó sẽ lao nhanh trở lại vị trí cân bằng của mình” [71]. Kế thừa những thành tựu và khắc phục những hạn chế của các nhà kinh tế học trước mình, K.Marx đã nghiên cứu sâu sắc về lao động trong tác phẩm “Tư bản” [30], thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị - lao động, giải quyết triệt để những bế tắc mà các nhà kinh tế trước đó chưa lý giải được. Xuất phát từ phân tích sự vận động của tư bản, C.Mác đã tìm ra bản chất của sức lao 9 động với tư cách là một hàng hoá đặc biệt có giá trị sử dụng khác với giá trị sử dụng của các loại hàng hoá thông thường, đó là không bị mất đi khi tiêu dùng mà có thể tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn lượng giá trị bản thân nó - đó là cơ sở của giá trị thặng dư. Trong quá trình nghiên cứu tích luỹ tư bản C.Mác cho rằng, nhân tố quan trọng nhất của việc nghiên cứu tác động của sự tăng lên của tư bản đối với số phận của giai cấp công nhân là cấu tạo của tư bản.
Cấu tạo của tư bản được xem xét trên phương diện hiện vật và trên phương diện giá trị.Mác phân biệt kết cấu giá trị của tư bản và kết cấu kỹ thuật của tư bản. Giữa hai cái đó có một quan hệ qua lại chặt chẽ. Để nói lên mối quan hệ qua lại đó.Mác gọi kết cấu giá trị của tư bản là kết cấu hữu cơ của tư bản trong chừng mực mà kết cấu giá trị ấy được quyết định bởi kết cấu kỹ thuật của tư bản và phản ánh những thay đổi của kết cấu kỹ thuật này. Sự phát triển của lực lượng sản xuất, kỹ thuật được cải thiện do tác động thường xuyên của tiến bộ khoa học - công nghệ đã làm cho cấu tạo kỹ thuật của tư bản ngày càng tăng, kéo theo sự tăng lên của cấu tạo giá trị của tư bản, nên cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng ngày càng tăng lên.
Kết quả đó được thực hiện bằng một loạt những biến đổi trong cách thức sản xuất, khiến cho một số lượng nhất định sức lao động cũng có thể sử dụng được một khối lượng tư liệu sản xuất lớn hơn. Khi đó, tích luỹ tăng không chỉ có sự tăng thêm cùng một lúc về lượng các yếu tố vật chất của tư bản, mà còn có những biến đổi về chất: khối lượng tư liệu sản xuất tăng mạnh hơn so với tổng số sức lao động, cần thiết để sử dụng khối lượng tư liệu sản xuất ấy. Như vậy, sự lớn lên của tư bản làm cho lao động có năng suất lao động, thì nó lại làm cho số cầu về lao động giảm đi theo tỷ lên với lượng của tư bản. Như vậy, theo C.Mác cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên trong quá trình tích luỹ chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra nạn thất nghiệp trong chủ nghĩa tư bản.
Ông gọi đó là “quy luật nhân khẩu thừa tương đối”. Trong tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936), J.Keynes đã đề cập tới vấn đề việc làm và xác định mức độ việc làm được qui định bởi những yếu tố tổng mức cầu đối với các hàng hoá, dịch vụ trong điều kiện cụ thể về các nguồn lực và trình độ công nghệ. Do đó, để giảm thất nghiệp thì 10 chính phủ có thể tăng chi tiêu để tăng tổng cầu hoặc thông qua các chính sách khuyến khích đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân [26]. Lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Harris Todaro ra đời vào thập kỷ 60-70 của thế kỷ XX, nghiên cứu việc làm bằng sự di chuyển lao động trên cơ sở thực hiện điều tiết thu nhập, tiền lương giữa các khu vực kinh tế khác nhau.
Theo ông, những người lao động ở khu vực nông thôn có thu nhập trung bình thấp. Họ lựa chọn quyết định di chuyển lao động từ vùng có thu nhập thấp sang khu vực thành thị có thu nhập cao hơn. Như vậy, quá trình di chuyển lao động mang tính tự phát, phụ thuộc vào sự lựa chọn, quyết định của các cá nhân. Điều này làm cho cung cầu về lao động ở từng vùng không ổn định, gây khó khăn cho chính phủ trong việc quản lý lao động và nhân khẩu.
Mô hình Harris Todaro cho phép giải thích được lý do tồn tại tình trạng thất nghiệp ở các đô thị tại các nước đang phát triển, và tại sao người dân lại chuyển tới các thành phố mặc dù đang tồn tại nan giải vấn đề thất nghiệp. Để giải quyết vấn đề này, mô hình Harris-Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức. Đó là khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động, không hoàn toàn là bất hợp pháp, nhưng thường cũng không được sự thừa nhận chính thức của xã hội và hầu hết các hoạt động này đều không đăng ký với nhà nước. Ví dụ như lao động phục vụ gia đình, hành nghề tự do, xe ôm, bán hàng rong, v.
Lý thuyết về thể chế cho rằng, thể chế chính thức chi phối trong hoạt động của nhà nước với cơ cấu tổ chức phức tạp, quan hệ thứ bậc và phối hợp rõ ràng và các rằng buộc nhằm cân bằng và kiểm soát quyền lực công. Còn đối với bộ phận thị trường, thông thường thể chế chính thức chi phối khu vực đô thị hiện đại, còn thể chế phi chính thức hiện diện nhiều hơn ở khu vực nông thôn, truyền thống. Các thể chế kinh tế bao gồm hệ thống các quy tắc được đặt ra nhằm điều chỉnh hành vi con người trong việc sản xuất, trao đổi và phân phối của cải xã hội trong giới hạn các nguồn lực, nhằm hướng tới các mục tiêu tăng trưởng, ổn định và công bằng. Xét về lý thuyết, thị trường chính là cơ chế tự nhiên phân bổ các nguồn lực khan hiếm một cách hiệu quả nhất, dựa trên phương thức cạnh tranh, tín hiệu giá cả và động lực là lợi ích kinh tế.
Nói cách khác, chính “bàn tay vô hình” là thứ 11 dẫn dắt và phối hợp các hành động cá nhân đơn lẻ theo cách thức hữu hiệu nhất, xét theo nghĩa phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, thị trường không bao giờ đạt đến độ hoàn hảo, và luôn hàm chứa những khuyết tật. Chính vì vậy, các thể chế kinh tế phải hướng đến khắc phục những khuyết tật này. Để hạn chế những khuyết tật thị trường, trước hết phải kể đến vai trò của nhà nước.
Thông qua việc hình thành và phát triển các thể chế chính thức, nhà nước thường xử lý vấn đề nêu trên theo hai cách: i) Xây dựng các khuôn khổ và cơ chế nhằm tác động gián tiếp kìm hãm hay khuyến khích các động cơ và lợi ích; và ii) Can thiệp trực tiếp như một chủ thể tham gia thị trường. Theo trường phái thể chế thì cả thể chế chính thức và phi chính thức đều có những tác động nhất định đến việc hình thành và phát triển các loại thị trường, một mình vai trò của nhà nước là chưa đủ. Như vậy, có thể thấy các nghiên cứu chủ yếu đưa ra một số lý thuyết chung về các khía cạnh của thị trường lao động, giải thích nguyên nhân thất nghiệp, di chuyển lao động và vai trò của thể chế đối với sự hình thành và phát triển của các loại thị trường, trong đó có thị trường lao động, từ đó chỉ ra rằng, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến tăng năng suất lao động và tạo điều kiện cho chuyển dịch lao động từ khu vực có năng suất lao động thấp sang khu vực có năng suất lao động cao. Tuy nhiên do nhiều yếu tố, quá trình chuyển dịch này không dễ dàng, dẫn đến sự hình thành các phân mảng thị trường lao động, sự “dư thừa” lao động không có chuyên môn kỹ thuật và sự thiếu hụt lao động có chuyên môn kỹ thuật ở cấp độ quốc gia và cấp vùng/khu vực.
Đây là cơ sở lý thuyết để Luận án áp dụng giải quyết các vấn đề. Tuy nhiên, các lý thuyết đó không tập trung vào giải thích bản chất, nội dung, các nhân tố ảnh hưởng và các tiêu chí đánh giá sự phát triển của thị trường lao động trong điều kiệu hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Các nghiên cứu liên quan đến lao động, thị trường lao động Hai tác giả Ronald G.Ehrenberg và Robert S.Smith đã cung cấp một cách nhìn tổng quát về thị trường lao động qua cuốn sách “Modern labor economics: Theory and public policy”.