CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VÍ ĐIỆN TỬ VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ VÍ ĐIỆN TỬ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Ví điện tử, dịch vụ ví điện tử Ra đời năm 2008 trong bối cảnh thị trường thương mại điện tử đang cần những công cụ thanh toán phù hợp, ví điện tử được kỳ vọng giúp người mua và người bán kết nối nhanh chóng với nhau.
Đây là một loại tài khoản điện tử dùng để thanh toán các giao dịch trực tuyến, giúp người dùng thanh toán các loại phí trên Internet như hóa đơn tiền điện, tiền nước, cước Internet, cước truyền hình cáp, mua vé máy bay, thanh toán vay tiêu dùng, chuyển tiền, mua sắm online,… Ví điện tử là một ví ảo lưu trữ thông tin thẻ thanh toán trên máy tính hoặc thiết bị di động, để tạo điều kiện thuận lợi không chỉ cho mua hàng trực tuyến mà cả thanh toán tại các điểm bán lẻ (Tolety, 2018). Theo Pachpande và Kamble (2018),ví điện tử là một loại thẻ hoạt động bằng điện tử và cũng được sử dụng cho các giao dịch được thực hiện trực tuyến thông qua máy tính hoặc điện thoại thông minh và tiện ích của nó giống như thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ. Dịch vụ ví điện tử theo khoản 1 điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính.), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài Khoản thanh toán của 6 --- khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử theo tỷ lệ 1:1. Tính đến tháng 6 năm 2021, có đến 43 tổ chức không phải là ngân hàng đã được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, trong đó có 40 tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện.
Một số loại ví điện tử đang hoạt độngnhư: Trong nước: VNPT Money, Viettel Pay, Ngân lượng, BaoKim, Payoo, MoMo, Viettelpay…. Các loại ví điện tử này được phát hành bởi các công ty trong nước và sử dụng phổ biến trong nước. Ví điện tử quốc tế: PayPal, AlertPay, WebMoney, Moneybookers…. Những lợi ích của ví điện tử Hình thức nạp tiền và thanh toán đa dạng, nhanh chóng, tiện lợi bao gồm cả cácwebsite lẫn các ứng dụng di động.
Khách hàng có thể thực hiện việc thanh toán muahàng,trảtiềndịchvụởbấtkìnơiđâu,bấtkỳlúcnàochỉbằngmộtvàithaotácđơn giảnkèmtheomộtbướcxácnhậnmậtkhẩugiaodịch; Giúp tiết kiệm thời gian làm việc và di chuyển của người dùng, thực hiện các giao dịch thanh toán dễ dàng và nhanh chóng. Song song đó, người dùng có thể thực hiện truy vấn thông tin tài khoản mọi lúc mọi nơi, đặc biệt không cần phải mang theo tiền mặt, tránh tình trạng bị rơi tiền hay bị đánh cắp; Thanh toán qua ví điện tử giúp bảo mật các giao dịch, cho phép thanh toán những khoản chi phí nhỏ, dễ sử dụng, phổ biến (vì nó có thể không cần liên kết với tài khoản ngân hàng trong quá trình thanh toán) và phạm vi sử dụng rộng. Ngoài ra, ví điện tử có thể được sử dụng cho thanh toán thông thường hàng ngày và các ứng dụng khác như một thẻ thông minh cũng như thanh toán qua Internet (Sahut, 2008). Thị trường, phát triển thị trường 1.
Thị trường Thị trường là môi trường cho phép người mua và người bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên về cung và cầu. Một khái niệm khác về thị trường: Thị trường là tập hợp những người mua, người bán tác động qua lại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi. 7 --- Một cách hiểu khác về thị trường chính là “Nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó”. Hiểu theo nghĩa này, chúng ta có thể phân loại thị trường như thị trường gạo, thị trường chứng khoán, thị trường cà phê, thị trường vốn,.
Thị trường cũng có thể được định nghĩa dựa trên địa điểm, khu vực thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi. Theo đó, chúng ta có một số cách gọi quen thuộc như, thị trường Hà Nội, thị trường miền Bắc, thị trường miền Trung, thị trường miền Nam,. Trong ngành kinh tế, thị trường được hiểu là nơi tồn tại các quan hệ mua bán hàng hóa , nơi mà ở đó người mua và người bán có mối quan hệ cạnh tranh với nhau. Theo đó, thị trường được chia thành ba loại: • Thịtrườnghànghóa-dịchvụ • Thịtrườnglaođộng • Thịtrườngtiềntệ Theo marketing, thị trường bao gồm tất cả khách hàng hiện có và tiềm năng có cùng một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, có khả năng và sẵn sàng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn của họ Ở góc độ doanh nghiệp, thị trường được mô tả: Là một hay nhiều nhóm khách hàng với các nhu cầu tương tự nhau và những người bán cụ thể nào đó mà doanh nghiệp với tiềm năng của mình có thể bán hàng hóa dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Nhìn chung, thị trường chính là chiếc cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, giữa khách hàng với doanh nghiệp, là nơi để các doanh nghiệp đưa sản phẩm, dịch vụ của mình đến với khách hàng. Thông qua thị trường doanh nghiệp có thể xác định vị thế của mình. Chính vì vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trên thị trường, thì doanh nghiệp đó phải luôn tìm kiếm cơ hội phát triển thị trường. Phát triển thị trường Nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của con người luôn có tính khác biệt, mỗi loại hàng hóa, dịch vụ sẽ có lượng nhu cầu nhất định.
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ chỉ chiếm được một phần nhất định và phần thị trường mà 8 --- doanh nghiệp chiếm được đó gọi là thị phần trên thị trường và thị phần này cũng luôn biến đổi. Để doanh nghiệp kinh doanh một cách hiệu quả, thu lại được nhiều lợi nhuận thì việc chiếm giữ thị trường rất quan trọng. Muốn vậy cách tốt nhất để đạt được điều đó là doanh nghiệp phải phát triển thị trường. Vậy phát triển thị trường là gì? Theo Philip Kotler (1995) Phát triển thị trường là tổng hợp các cách thức, biện pháp của doanh nghiệp để đưa khối lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường đạt mức tối đa.
Phát triển thị trường sản phẩm của doanh nghiệp ngoài việc đưa sản phẩm hiện tại vào bán trong thị trường mới còn bao gồm cả việc khai thác tốt thị trường hiện tại để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng từ đó gia tăng và mở rộng thị phần. Sự cần thiết phát triển thị trường Theo Nguyễn Minh Chiến (2005), đối với bất kỳ doanh nghiệp nào thì thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cũng là vấn đề sống còn. Thứ nhất, mục đích của nhà sản xuất là để bán để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy còn thị trường thì còn sản xuất kinh doanh, mất thị trường thì sản xuất kinh doanh bị đình trệ.
Thứ hai, thị trường hướng dẫn hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nhà sản xuất kinh doanh căn cứ vào cung cầu, giá cả thị trường để quyết định sản xuất cái gì? bao nhiêu? cho ai?. Thứ ba, thị trường phản chiếu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Qua công tác nghiên cứu thị trường sẽ thấy được tốc độ, trình độ và quy mô của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, thị trường là nơi quan trọng để đánh giá, kiểm nghiệm, chứng minh tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Thị trường còn phản ánh các quan hệ xã hội, hành vi giao tiếp của con người, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh doanh. Hơn nữa, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường bất cứ doanh nghiệp nào cũng gặp phải sự cạnh tranh gay gắt và quyết liệt trên thị trường không chỉ là với 9 --- sản phẩm nhập khẩu mà còn ngay cả với các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước. Vì vậy, để tồn tại và phát triển đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải huy động tốt các tiềm năng nội lực của mình, phải không ngừng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường.
Thị trường luôn luôn biến động, do vậy để thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt, quan tâm đến thị trường và không ngừng phát triển thị trường. Hoạt động trong cơ chế thị trường mà không nắm bắt được cơ hội, sự vận động của nền kinh tế, không biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ bị tụt hậu và sớm bị loại bỏ ra khỏi thị trường. Doanh nghiệp muốn thành công thì không thể chỉ giành lấy một mảng thị trường mà phải vươn lên nắm vững thị trường, thường xuyên mở rộng và phát triển thị trường. Phát triển thị trường dịch vụ 1.
Nội dung phát triển thị trường của doanh nghiệp 1. Các cách phát triển thị trường Theo quan điểm của Ansoff: các công ty kinh doanh cần căn cứ vào cặp sản phẩm và thị trường để xác định mục tiêu kinh doanh hiện tại của mình tại thị trường mục tiêu là gì? Từ đó có những hoạt động nghiên cứu thị trường tập trung, hiệu quả nhằm đưa ra những chiến lược, giải pháp cụ thể cho từng thị trường. Hình 1 : Ma trận Ansoff (Nguồn: Ansoff 1957 ) Sản phẩm hiện tại (cũ): Là những sản phẩm mà doanh nghiệp đã và đang sản 10 --- xuất kinh doanh, tại thị trường hiện tại khách hàng đã quen thuộc với sản phẩm này. Sản phẩm mới: Được hiểu theo hai khía cạnh: Sản phẩm mới hoàn toàn: Là sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường, chưa có sản phẩm đồng loại khác.
Người tiêu dùng chưa quen dùng với sản phẩm này; Sản phẩm cũ đã được cải tiến và thay đổi. Sản phẩm cũ và sản phẩm mới chỉ là khái niệm tương đối vì sản phẩm có thể là cũ trên thị trường này nhưng lại là mới trên thị trường khác. Thị trường cũ: Còn được gọi là thị trường truyền thống, đó là những thị trường mà doanh nghiệp đã có mặt trên thị trường. Trên thị trường này doanh nghiệp đã có các khách hàng quen thuộc.
Thị trường mới: Là thị trường mà doanh nghiệp chưa tiến hành các hoạt động kinh doanh buôn bán trên thị trường này. Ma trận Ansoff được xây dựng trên hai tiêu chí là sản phẩm hiện tại và sản phẩm mới; thị trường hiện tại và thị trường mới, hình thành hai trục của ma trận và phân thành bốn khung chiến lược.