phần Mở đầu, kết luận, các Phụ lục và danh sách tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng. Chƣơng 1: Lý luận chung về hoạt động cho vay ngang hàng. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển hoạt động cho vay ngang hàng tại một số nƣớc trên thế giới. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam.
Luan van 5 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGANG HÀNG. Tổng quan về Cho vay ngang hàng. Trong quá trình hình thành và phát triển, đã có nhiều nhà khoa học đƣa ra các định nghĩa khác nhau về CVNH. Theo Jeremy Mandell đến từ Công ty luật Morrison & Foerster, CVNH là một hoạt động kết nối đầu tƣ một cách thuận tiện bên ngoài hệ thống ngân hàng tiêu dùng thông thƣờng; bằng cách kết nối trực tiếp ngƣời đi vay với ngƣời cho vay hoặc NĐT thông qua một nền tảng Internet.
Theo trang web tài chính Investopedia, CVNH là một phƣơng pháp cho vay tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân vay tiền và cho vay tiền giao dịch trực tiếp mà không cần đến một tổ chức tài chính chính thức làm trung gian. CVNH đề cập đến các khoản vay không có đảm bảo giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay thông qua các nền tảng trực tuyến mà không cần trung gian của bất kỳ tổ chức tài chính nào (Lin và cộng sự, 2009; Collier & Hampshire, 2010; Bachmann và các cộng sự, 2011) Từ các định nghĩa trên, tác giả đƣa ra định nghĩa tổng quát về CVNH đó là: CVNH là hoạt động kết nối đầu tƣ trực tiếp những ngƣời đi vay và ngƣời cho vay thƣờng diễn ra trên trang web của các công ty CVNH. Lịch sử phát triển. Hình thức CVNH xuất hiện từ đầu những năm 1700, khi tác giả Jonathan Swift ngƣời Ailen của cuốn sách nổi tiếng Travels Jonathan - đã cho nhiều ngƣời vay những số tiền nhỏ khác nhau.
Trong suốt thế kỷ 18 và 19, CVNH đã trở thành một trong những phƣơng thức tín dụng đƣợc sử dụng rộng rãi nhất ở châu Âu. Mặc dù CVNH trở nên ít phổ biến hơn trong thế kỷ 20 vì sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, nhƣng gần đây nó đã bùng nổ trở lại nhờ sự phát triển của Internet. Luan van 6 Làn sóng gián đoạn trong khu vực tài chính đã tăng mạnh sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Sau những tổn thất nặng nề, hệ thống các ngân hàng buộc phải khắt khe hơn trong quá trình cho vay và giải ngân, điều này đã tạo ra sự không hài lòng của những ngƣời đi vay dành cho các ngân hàng thƣơng mại.
Theo thông tấn xã Reuters, "hai mƣơi trong số các ngân hàng lớn nhất thế giới đã phải trả hơn 235 tỷ đô la tiền phạt và bồi thƣờng trong bảy năm (2008-2015) cho một loạt các hành động sai phạm, từ việc thao túng thị trƣờng tiền tệ và lãi suất cho đến trốn thuế". Những nhƣợc điểm của hình thức cho vay truyền thống, điển hình nhƣ hệ thống thủ tục tốn thời gian và cứng nhắc của các ngân hàng là nền tảng cho sự phát triển các phƣơng thức cho vay linh hoạt hơn. Một trong số đó là hình thức CVNH (P2P lending)- hình thức cho vay với các thủ tục đơn giản, thời gian phê duyệt khoản vay nhanh cùng với khoản vay linh hoạt và phù hợp với nhiều đối tƣơng khách hàng vay khác nhau, đồng thời có tính minh bạch cao. Tuy nhiên, CVNH chỉ thực sự đƣợc biết đến rộng rãi nhờ sự ra mắt của hai công ty là Zopa của Anh vào năm 2005 và Prosper của Mỹ vào năm 2006.
Đây là những công ty CVNH đầu tiên trên thế giới, nơi ngƣời đi vay và ngƣời cho vay không cần thông qua ngân hàng mà vẫn hoàn toàn có thể giao dịch trực tiếp với nhau thông qua một nền tảng CVNH – nền tảng giao dịch trung tâm. Tính đến năm 2016, Prosper tuyên bố có hơn 2 triệu thành viên và tổng số tiền cho vay là 6 tỷ USD (Prosper, 2016). Trong khi đó, Zopa báo cáo rằng họ đã hỗ trợ tổng cộng 1,4 tỷ bảng CVNH và có khoảng 53.000 khách hàng vay (Zopa, 2016). Kể từ khi Zopa và Prosper đƣợc ra mắt lần đầu tiên, đã có nhiều công ty khác đã thành công với sản phẩm CVNH.
Ngày nay, mô hình CVNH nằm trong số các phân khúc phát triển nhanh nhất trong không gian dịch vụ tài chính. Một số công ty CVNH nổi tiếng ở Hoa Kỳ và Châu Âu là Tập đoàn LendingClub (LC), Zopa, Prosper Marketplace, Prosper Marketplace, Upstart, Funding Circle, Peerform, Pave, Daric, Borrower First, SoFi, Ratesetter và Auxmoney. Thậm chí, trên thế giới đã xuất hiện những Tổ chức CVNH. Trong đó, tổ chức quy mô nhất hiện nay là Hiệp hội Tài chính CVNH của Anh – P2PFA.
Bản chất của Cho vay ngang hàng. Về bản chất, CVNH là quan hệ vay và cho vay trực tiếp giữa bên cho vay (NĐT) và bên đi vay, và quá trình cho vay đƣợc thực hiện trực tuyến hoặc ngoại tuyến thông qua các nền tảng CVNH. Trong đó, nền tảng CVNH đƣợc hiểu là các trang web do công ty CVNH tạo ra, trên đó tích hợp các tính năng và thông tin giúp các bên tham gia giao dịch thự hiện giao dịch một cách dễ dàng, ví dụ nhƣ: thông tin về các hồ sơ vay vốn, công cụ đấu thầu tự động, các tính năng theo dõi tình hình thu nợ,… Các công ty CVNH thƣờng không phải là NĐT trực tiếp cho vay tiền, mà họ tạo ra không gian kết nối (là các nền tảng CVNH) các bên tham gia, đồng thời cung cấp các dịch vụ đơn giản hóa quá trình vay và cho vay. Do đó, các công ty CVNH không hƣởng lợi nhuận từ việc hƣởng chênh lệch lãi suất vay và cho vay, mà nhận các khoản phí đến từ việc cung cấp các dịch vụ liên quan.
Nhìn chung, các mô hình CVNH có ba đặc điểm chính sau: 1. Chế độ tự động là một trong những đặc điểm ưu việt của hình thức Cho vay ngang hàng. Chế độ tự động là tập hợp các công cụ tự động giúp thuận tiện hóa quá trình giao dịch của các bên tham gia hoạt động CVNH nhƣ: tự động phân bổ quỹ của NĐT, tự động kết nối NĐT và ngƣời đi vay, tự động tái đầu tƣ,… Chế độ tự động phân bổ quỹ NĐT là hoạt động phân bổ quỹ đầu tƣ tự động vào các khoản vay có sẵn dựa trên mong muốn đầu tƣ. Các NĐT chỉ cần đƣa ra các đặc điểm cho vay mong muốn, chẳng hạn nhƣ lãi suất, điểm xếp hạng yêu cầu của ngƣời đi vay, sau đó các công cụ sẽ so sánh đối chiếu các yêu cầu của NĐT với các hồ sơ vay vốn trên hệ thống; tính toán và phân bổ quỹ đầu tƣ một các hợp lý.
Từ khi hình thức CVNH TD lần đầu tiên xuất hiện ở Hoa Kỳ (và trên toàn cầu), nó hoạt động dựa trên một tập hợp những tùy biến thể hiện đƣợc tính hiệu quả của chế độ tự động.Về cơ bản, chế độ này đã chuẩn hóa quá trình đầu tƣ bằng cách cho phép các công ty CVNH tự động đa dạng hóa danh mục đầu tƣ; thông qua tập hợp các thông tin các khoản vay có sẵn phù hợp với các thông số cho vay kỳ vọng Luan van 8 của NĐT, đồng thời nâng cao hiệu quả của thị trƣờng thông qua việc đơn giản hóa quá trình phê duyệt và cấp vốn cho khoản vay. Chế độ tự động thƣờng đƣợc sử dụng nhiều nhất bởi các NĐT cá nhân, vì họ thƣờng không có nhiều thời gian và thƣờng thiếu chuyên môn về việc đầu tƣ. Bởi vậy, để cung cấp môi trƣờng đầu tƣ tốt nhân cho những NĐTcá nhân cũng nhƣ nâng cao khả năng cạnh tranh, việc cung cấp chế độ tự động là yêu cầu thiết yếu các công ty CVNH tiêu dùng; trong khi đối với các mô hình tập trung nhiều NĐT có tổ chức nhƣ CVNH thƣơng mại và CVNH bất động sản, điều này lại không quá quan trọng. Bằng cách tiến hành giao dịch với sự trợ giúp của công cụ đấu thầu tự động, cả NĐT và ngƣời đi vay đều có thể hoàn thành giao dịch với thời gian ngắn hơn.
Từ góc độ vận hành, điều này là rất cần thiết, bởi thời gian giao dịch ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi nhuận của các nền tảng CVNH. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra những thách thức mới cho nền tảng. Vì với việc sử dụng công cụ đấu thầu tƣ động đồng nghĩa với việc công cụ này có ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình quyết định vay và cho vay của các bên. Vì vậy, các yếu tố cẩn trọng, chấm điểm tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng là điều tối quan trọng trong quá trình đấu thầu tự động.
Các nền tảng phải đảm bảo rằng việc phân tích tín dụng của họ phải đủ chính xác để đảm bảo rằng NĐT đƣa ra các quyết định đầu tƣ đúng đắn dựa trên hệ thống thông tin hỗ trợ từ hệ thống đấu thầu tự động. Cơ chế tính điểm tín dụng đa dạng, thường có sự kết hợp của thông tin từ bên thứ ba độc lập và thông tin nội bộ của nền tảng Cho vay ngang hàng. Trong quá trình cho vay, việc chấm điểm tín dụng (thẩm định tín dụng) là việc làm vô cùng quan trọng, do nó là cơ sở đánh giá khả năng thanh toán và thái độ của ngƣời đi vay. Thông thƣờng, đối với mô hình ngân hàng thƣơng mại, công tác thẩm định tính dụng thƣờng đƣợc thực hiện bởi chính đội ngũ nhân viên ngân hàng.
Ngƣời đi vay thƣờng sẽ điền các thông tin liên quan đến: năng lực trả nợ, vốn, tài sản thế chấp, các điều kiện khác vào văn bản đƣợc thiết kế sẵn theo quy chuẩn của từng ngân hàng. Đối với một số ngân hàng áp dụng công nghệ hiện đại, ngƣời đi vay có thể điền thông tin theo biểu mẫu niêm yết trên trang web của các ngân hàng. Luan van 9 Hệ thống chấm điểm tín dụng của các nền tảng CVNH có những điểm khác biệt. Hầu hết các công ty CVNH áp dụng nhiều phƣơng pháp khác nhau để đánh giá khả năng thanh toán của ngƣời vay.
Một số công ty sử dụng thông tin kiểm định từ bên thứ ba độc lập. Ở Mỹ, xếp hạng tín dụng của ngƣời vay thƣờng đƣợc thực hiện bởi bên thứ ba - Tổ chức Tín dụng Fair Isaac (FICO), dựa trên số an sinh xã hội của ngƣời vay, hay công ty Zopa ở Anh sử dụng điểm tín dụng do văn phòng tín dụng Equifax cung cấp.