đặt vấn đề cho đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu tổng quát. Những nội dung này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về các lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2. Các khái niệm liên quan 2.
Ví điện tử Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, ví điện tử được đánh giá như là một phương thức thanh toán an toàn, tiện lợi phù hợp với mọi đối tượng người dùng. Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), dịch vụ ví điện tử được định nghĩa là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tạo lập trên một vật mang tin: như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy chủ… cho phép lưu trữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền mặt tương đương và được sử dụng để thanh toán thay thế cho tiền mặt. Theo Công ty chuyển mạch tài chính quốc gia: Ví điện tử là một tài khoản điện tử, giống như ví tiền của người dùng trên internet và đóng vai trò như ví tiền mặt trong thanh toán, giúp người dùng thực hiện công việc thanh toán các khoản phí trên internet, tiền gửi một cách nhanh chóng, đơn giản và tiết kiệm cả về thời gian, công sức lẫn tiền bạc. Hình 1: Các loại ví hay sử dụng trên thị trường hiện nay (Ảnh: Vietdata) 6 2.2 Ví trả sau Ví trả sau là loại ví người dùng được chi tiêu trước và trả tiền sau.
Ví trả sau cung cấp cho người dùng một tài khoản với hạn mức nhất định sử dụng cho việc dùng trước và thanh toán. Hạn mức này thường được xác định dựa trên thông tin tài chính của người dùng. Đây giống như một tài khoản tín dụng mà ta thường thấy áp dụng tại các ngân hàng (thẻ tín dụng). Ví trả sau là hình thức thanh toán bằng các sản phẩm vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo do các ngân hàng liên kết với ví điện tử cung cấp cho khách hàng theo hình thức cấp hạn mức vay theo Hợp Đồng Tín Dụng.
Hình 2: Ví trả sau SpayLater (Nguồn dienthoaivui) 2. Khái niệm về ý định sử dụng dịch vụ Ý định là yếu tố được sử dụng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi của cá nhân. Theo Ajzen (1991), ý định mang tính thúc đẩy và thể hiện nỗ lực của một cá nhân sẵn sàng thực hiện một hành vi cụ thể. Theo các khái niệm của Ajzen, I.
181), Davis và cộng sự (1989) đều nhìn nhận ý định sử dụng của người tiêu dùng 4 liên quan đến mong muốn và nhu cầu của khách hàng trong việc lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ 7 liên quan, nhà cung cấp, địa điểm mua hàng. Các khách hàng sẽ có những ý định khác nhau tùy đặc điểm của mỗi khách hàng, yêu cầu, mục đích. Như vậy, ý định sử dụng dịch vụ là xác suất chủ quan của một người cảm nhận về dịch vụ để từ đó có thể đưa ra quyết định họ có thể hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định đối với dịch vụ trong tương lai. Mua sắm trực tuyến Trên thế giới, có rất nhiều quan niệm khác nhau về mua sắm trực tuyến.
Một số quan điểm của các tác giả tiêu biểu như: Theo Monsuwe và cộng sự (2004), mua sắm trực tuyến là là hành vi của ngườitiêu dùng trong việc mua sắm thông qua các cửa hàng trên mạng hoặc website sử dụng các giao dịch mua hàng trực tuyến. Hay theo Haubl và Trifts (2000) định nghĩa mua sắm trực tuyến đề cập đến giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bởi người tiêu dùng thông qua giao diện dựa trên máy tính bằng cách máy tính tương tác với các cửa hàng số hóa của nhà bán lẻ thông qua mạng máy tính của người tiêu dùng được kết nối. Mua sắm trực tuyến theo định nghĩa của Mastercard Worldwide Insights (2008) là quá trình mua hàng hóa và dịch vụ từ các thương gia bán qua internet. Mua sắm trực tuyến cũng được biết đến với các tên gọi khác là mua hàng qua internet, mua sắm điện tử, mua hàng trực tuyến hoặc mua sắm qua internet.
Kim (2004) định nghĩa thêm về mua sắm trên internet là việc xem xét, tìm kiếm,duyệt hoặc xem một sản phẩm để có thêm thông tin với ý định mua hàng trên Internet. Bằng cách nhìn ở góc độ khác, C hiu và cộng sự (2009) coi mua sắm trực tuyến là sự trao đổi thời gian, công sức và tiền bạc để nhận được sản phẩm hoặc dịch vụ. Như vậy ta có thể hiểu: Mua sắm trực tuyến là quá trình người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hóa, dịch vụ từ một người bán trong thời gian xác định thông qua Internet mà không có một dịch vụ trung gian nào. Mua sắm trực tuyến cũng là một tiến trình dùng để liệt kê hàng hóa và dịch vụ cùng với hình ảnh kèm theo được hiển thị từ xa thông qua 8 các phương tiện điện tử.
Khi sản phẩm hoặc dịch vụ được chọn, giao dịch sẽ được thực hiện một cách tự động bằng việc thanh toán trực tuyến hoặc thanh toán bằng tiền mặt. Các lý thuyết liên quan 2. Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) Thuyết hành vi hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được phát triển lần đầu vào năm 1967 bởi Fishbein, sau đó đã được sửa đổi và mở rộng bởi Ajzen và Fishbein (1975). Theo lý thuyết này, các cá nhân có cơ sở và động lực trong quá trình ra quyết định của họ và đưa ra một sự lựa chọn hợp lý giữa các giải pháp, công cụ tốt nhất để phán đoán hành vi là ý định và hành vi được xác định bởi ý định thực hiện hành vi (BI) của một người.
Theo Ajzen và Fishbein (1975), ý định hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan hành vi. Mô hình Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) (Ajzen và Fishbein, 1975) 2. Thuyết hành vi dự kiến ((Theory of Planned Behavior) Thuyết về hành vi có kế hoạch - TPB (Theory of Planned Behavior) của Ajzen (1991) là phần nối tiếp giữa thái độ và hành vi do Martin Fishbein và Icek Ajzen xây dựng từ năm 1975 (Fishbein & Ajzen, 1975). Thuyết này được tạo ra do sự hạn chế của lý 9 thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí.
Tương tự như lý thuyết TRA, nhân tố trung tâm trong lý thuyết hành vi có kế hoạch là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định. Trong lý thuyết mới này, tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như: thái độ, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi. Mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991) 2. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model - TAM) Dựa trên lý thuyết về hành động hợp lý (TRA), Davis (1986) đã phát triển Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – Mô hình TAM) liên quan cụ thể hơn đến dự đoán về khả năng chấp nhận của một hệ thống thông tin.
Mục đích của mô hình này là dự đoán khả năng chấp nhận (adoption) của một công cụ và xác định các sửa đổi phải được đưa vào hệ thống để làm cho nó được người dùng chấp nhận. Mô hình này cho thấy khả năng chấp nhận của một hệ thống thông tin được xác định bởi hai yếu tố chính: nhận thức tính hữu ích (perceived usefulness) và nhận thức dễ sử dụng (perceived ease of use). Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Davis, Bogozzi and Warshaw, 1989) 2. Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Mô hình UTAUT hay còn gọi là mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology) được xây dựng bởi Viswanath Venkatesh (2003) và các cộng sự: Michael G.Davis, và Fred D.
Davis với mục đích kiểm tra sự chấp nhận công nghệ và sử dụng cách tiếp cận thống nhất hơn. Đây được coi là mô hình kết hợp của 8 mô hình/ lý thuyết thành phần trước đó dựa trên quan điểm chung nhất là nghiên cứu sự chấp nhận của người sử dụng về một hệ thống thông tin mới bao gồm: TRA (Theory of Reasoned Action – Thuyết hành động hợp lý) TAM (Technology Acceptance Model – Mô hình chấp nhận công nghệ) MM (Motivation Model – Mô hình động cơ) TPB (Theory of Planned Behavior – Thuyết dự định hành vi) C-TAM-TPB (A model combining TAM and TPB – mô hình kết hợp TAM và TPB) MPCU (Model of PC Utilization – mô hình sử dụng máy tính cá nhân) IDT (Innovation Diffusion Theory - mô hình phổ biến sự đổi mới) SCT (Social Cognitive Theory- Thuyết nhận thức xã hội) 11 Hình 6. Mô hình UTAUT gốc (Nguồn: Venkatesh và cộng sự , 2003) PE (Performance Expectancy) là kỳ vọng kết quả thực hiện được, được định nghĩa là “mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng hệ thống sẽ giúp họ có thể đạt được lợi nhuận trong hiệu suất công việc” (Venkatesh và cộng sự, 2003). Những người khác có thể bao gồm các ông chủ, đồng nghiệp, cấp dưới, v.
Theo Venkatesh và cộng sự (2003) ảnh hưởng xã hội được mô tả như là tiêu chuẩn chủ quan trong TRA, TAM2, TPB / DTPB và C- TAM- TPB, các yếu tố xã hội trong MPCU, và hình ảnh trong IDT. Sự ảnh hưởng của FC vào sử dụng sẽ được điều tiết theo độ tuổi, chi phí hàng tháng, và kinh nghiệm thiêng về những người làm việc lớn tuổi với sự gia tăng về kinh nghiệm. BI (Behavioral Intention) là dự định hành vi được định nghĩa bởi (Fishbein và Ajzen, 1975; và Davis và Cosenza, 1993) là mức độ người sử dụng có ý định chấp 12 nhận và sử dụng hệ thống và đây là nguyện vọng và mục tiêu cuối cùng. Venkatesh và cộng sự (2003) giả định rằng BI sẽ có một ý nghĩa tích cực ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ.
Các công trình nghiên cứu liên quan 2. Nghiên cứu quốc tế Năm 2015 bài báo của của Prof.