Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các đề tài nghiên cứu nước ngoài Fathima và cộng sự (2015) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận E-Banking tại Ấn độ. Với 09 giải thiết nghiên cứu được xây dựng trên các nghiên cứu thực nghiệm và mẫu khảo sát 319 người dùng Internet, sau khi hồi quy bộ, Nghiên cứu cho thấy: Tính hữu ích, Tin cậy, Nhận thức dễ dàng sử dụng là những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự chấp nhận của người dùng đối với E- Banking tại Ấn Độ.
Nghiên cứu những yếu tố hảnh hưởng đến quyết định hành vi sử dụng E- Banking ở Malaysia tác giả Al-Ajam và Khalil (2013) chỉ ra các nhân tố như là : Lợi thế tương đối, Cảm nhận dễ dàng sử dụng, Tính tương thích, Khả năng thử nghiệm, Thái độ. Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định hành vi sử dụng E- Banking tại An độ của tác giả Behara và Suryanarayana (2013) chỉ ra các nhân tố như là: Lợi thế tương đối, Hiệu quả thiết thực, Niềm tin, An toàn, Ảnh hưởng xã hội, Sự tự tin, Chi phí, Cảm nhận dễ sử dụng, Dễ dàng truy cập. Arango và cộng sự (2011) nghiên cứu vai trò của các biện pháp khuyến khích thanh toán thẻ qua POS của người tiêu dùng khảo sát những khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ qua POS do các ngân hàng tại Canada cung cấp, cho thấy có 3 yếu tố chính: Dễ sử dụng, các loại chi phí giao dịch, thanh toán chậm. Adeoti và Oshotimehin (2011) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc người tiêu dùng sử dụng máy POS ở các ĐVCNT tại bang Lagos, Nigeria như : siêu thị, khách sạn, trạm xăng, quán ăn, các hãng hàng không, trường học, công ty và các cửa hàng dược pham, chỉ ra được các yêu tô tác động chính là: Tính bao mật, Dé sử dụng, Tính sẵn có của hệ thống, Sự thuận tiện, Mục đích sử dụng, Sự phức tạp trong sử dụng, Thời gian xử lý giao dịch.
Foon và Fah (2011) nghiên cứu về các nhân tổ ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng E-Banking ở Malaysia. Với mẫu nghiên cứu gồm 200 người theo cách lay mau thuận tiện, thực hiện hồi quy tuyến tính để xác định các nhân tố ảnh hướng đến việc chấp nhận sử dụng E-Banking ở Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu suất mong đợi, Nỗ lực kỳ vọng, Ảnh hưởng xã hội, Điều kiện thuận lợi và sự tin tưởng tương quan dương với ý định sử dụng E-Banking của người tham gia khảo sát. Theo Borzekowski (2008), Schuh và Stavins (2011) thì đặc điểm phương thức thanh toán cũng là yếu tố quyết định quan trọng khi người tiêu dùng lựa chọn phương thức thanh toán.
Ví du, phí giao dịch hay phần thưởng, ưu đãi dựa trên chính sách của NH cấp thẻ cũng liên quan chặt chẽ với việc sử dụng thanh toán thẻ khi mua hàng. Bên cạnh đó, một số phương thức thanh toán có thuộc tính đặc trưng khác nhau như ứng trước tiền mặt, hỗ trợ thanh khoản (thanh toán thé tín dụng), hay các thuộc tính về tốc độ giao dịch, độ an toàn và tính dễ sử dụng của tiền mặt, các đặc trưng này trên từng phương thức thanh toán được người tiêu dùng nhận thức khác nhau. Do vậy mỗi đặc tính trên đều có tác động khác nhau đưa đến quyết định mỗi khách hàng có sự lựa chọn hình thức thanh toán khi mua hàng khác nhau. Ở một khía cạnh khác, người tiêu dùng được nhận thấy tìm ưa thích hình thức thanh toán bang thẻ tin dụng dé mua các sản phẩm lâu bền do giá trị giao dịch lớn và nhận được nhiều ưu đãi, điều đó cho thấy rằng chiến lược của người bán cũng tác động đáng ké đến lựa chọn hình thức thanh toán của người tiêu dùng (Simon và cộng sự, 2011).
Tác giả cũng đưa ra bằng chứng của những cân nhắc như tiện lợi, sự chấp nhận, tiếp cận công nghệ và thói quen tiêu dùng thúc đây mạnh mẽ sự lựa chọn của người tiêu dùng trong thanh toán. Trong các nghiên cứu liên quan đến chương trình khuyến khích sử dụng thanh toán thẻ, Arango và cộng sự (2011) chỉ ra sự cạnh tranh mạnh mẽ của ngành công nghiệp thẻ ở Canada có tác động tích cực đến việc sử dụng thanh toán thẻ khi chỉ phí giao dịch thực tế được giảm gần như bằng không, thậm chí sự cạnh tranh có phần tiêu cực thông qua phần thưởng, giảm giá và các chương trình khuyến mãi để thu hút khách hàng. Tác giả đề nghị rằng mục đích của chương trình ưu đãi, phần thưởng là nhằm kích thích tăng chi tiêu dùng của người dân và tăng doanh thu của tổ chức phát hành thẻ bằng cách thu các loại phí tài chính và phí giao dịch. Nghiên cứu của Ching và Hayashi (2006) cũng đã đưa ra bằng chứng cho thấy phần thưởng có tác động đến lựa chọn công cụ thanh toán của người tiêu dùng.
Họ phát hiện ra rằng người tiêu dùng sử dụng thanh toán thẻ tín dụng mạnh mẽ hơn có hiệu ứng của phần thưởng. Nghiên cứu của tác giả Guriting và cộng sự (2006) đã chỉ ra các nhân tố Cảm nhận tính dễ sử dụng, Cảm nhận về sự hữu ích, Sự tin tưởng đối với Ngân hàng ảnh hưởng đến quyết định và sự chấp nhận của khách hàng về dịch vụ E-Banking tại Malaysia. Nghiên cứu của Ching va Hayashi (2006) xác định rằng các đặc điểm của giao dịch bao gồm giá trị giao dịch và điều kiện cơ sở hạ tầng, công nghệ cũng ảnh hưởng đến lựa chọn thanh toán của người tiêu dùng. Những ảnh hưởng của môi trường bên ngoài đến việc sử dụng một công cụ thanh toán có thé được xem là một tác động phụ.
Một số loại cửa hàng bán lẻ có thể không chấp nhận thanh toán thẻ hoặc chỉ nhận thanh toán một số loại thẻ có định hoặc chỉ nhận tiền mặt. Thậm chỉ ngay cả khi điểm bán hàng chấp nhận tất cả các phương thức thanh toán, thì một số công cụ thanh toán vẫn được xem là tiện ích hơn so với các cộng cụ khác. Chang hạn như phi giao dịch khách hang phải trả khi chon thanh toán bang một số loại thẻ nhất định, hoặc quy trình xử lý giao dịch thẻ khác nhau, đối với thẻ nội địa, khách hàng phải xác nhận bằng chữ ký cho mỗi giao dịch. Nghiên cứu của tác giả Wang và cộng sự (2003) thay rằng các nhân tô cảm nhận về tinh dé sử dụng, cảm nhận về sự hữu ích, sự tin tưởng đối với Ngân hàng quyết định đến sự chấp nhận dịch vụ E-Banking tại Đài Loan.
Kemnickell và Kwast (1997), Hayashi và Klee (2003), và Schuh và Stavins (2011) đã chỉ ra rằng sự lựa chọn phương thức thanh toán của người tiêu dùng tại điểm bán hàng bị ảnh hưởng chủ yếu bởi 3 yếu tố: đặc điểm của người tiêu dùng, đặc điểm phương thức thanh toán và đặc điểm của giao dịch. Đặc điểm của người tiêu dùng, chang hạn như đặc điểm nhân khẩu học và tinh trạng tài chính đã được chứng minh có mỗi tương quan với việc lựa chọn phương thức thanh toán. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và sự chấp nhận E-Banking tại Phần Lan của tác giả Kajaluoto và cộng sự (2002) chỉ ra các nhân tố như là: Kinh nghiệm về máy tính, Kinh nghiệm về Giao dịch ngân hàng, Thái độ, Nhân tố nhân khẩu học. Các đề tài nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Hà Nam Khánh Giao (2017) về sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thanh toán thẻ qua POS tại Vietinbank chi nhánh 2 TP.HCM lay dữ liệu sơ cấp từ 160 khách hàng sử dụng POS bằng bảng câu hỏi.
Bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có 6 nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thanh toán thẻ qua POS, mức độ tác động theo thứ tự giảm dần: Phương tiện hữu hình, Tính đáp ứng, Sự thuận tiện, Phí giao dịch, Dễ sử dụng và Sự tin cậy. Kết quả kiểm định sự khác biệt cho thấy với độ tin cậy 95%, không có sự khác biệt về sự hài lòng của khách hàng theo các yếu tố: độ tuôi và trình độ học van nhưng lại có sự khác biệt giữa khách hàng nam và khách hàng nữ. Nghiên cứu của Hà Nam Khánh Giao và Võ Văn Linh (2015) về các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử tại tỉnh Quảng Ngãi lay dữ liệu sơ cấp từ 500 bảng câu hỏi được phát ra trực tiếp đến các nhân viên văn phòng.
Bằng phương pháp phân tích nhân tổ khám phá EFA, phân tích hồi quy. Kết quả phân tích hồi quy cho sự chấp nhận sử dụng dịch vụ E-Banking chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi 4 yếu tố, trong đó có 3 yếu tố ảnh hưởng đồng biến xếp theo thứ tự từ mạnh nhất đến yêu dần, đó là : Nhận thức dễ dàng sử dụng, Nhận thức sự hữu ích, Chi phi sử dụng và một yêu tố ảnh hưởng nghịch biến là Nhận thức rủi ro. Yếu tố dễ dàng sử dụng có tác động nhiều nhất tới việc chấp nhận sử dụng dịch vụ E- Banking với hệ số hồi quy khá cao là 0,529, điều này cũng phù hợp vì dịch vụ E- Banking có tính dễ dàng sử dụng thì sẽ được mọi người chấp nhận sử dụng rộng rãi; yêu tố rủi ro giao dịch (PR) có hệ số hồi quy âm (B < 0) nên có sự tác động theo chiều hướng nhận thức rủi ro càng cao thì mức độ chấp nhận sử dụng dịch vụ E- Banking càng ít và ngược lại. Nghiên cứu của Nguyễn Duy Thanh và Cao Hào Thi (2014) về mô hình cau trúc cho sự chấp nhận sử dụng E-Banking ở Việt Nam.
Nghiên cứu lấy dữ liệu sơ cấp từ 369 người tham gia khảo sát bằng bảng câu hỏi trên Google Docs và gửi ban in câu hỏi trực tiếp đến đối tượng khảo sát là những người đã từng sử dụng hoặc có ý định sử dụng E-Banking ở Việt Nam. Bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy và phân tích nhân số khẳng định, tác giả đã đưa ra mô hình cấu trúc cho sự chấp nhận sử dụng E-Banking ở Việt Nam. Từ việc phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính nêu trên đã chỉ ra các nhân tố: Nhận thức kiểm soát hành vi, Khả năng tương thích, Hiệu quả mong đợi, Hình ảnh ngân hàng và Rủi ro trong giao dịch có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và có tác động đến sự chấp nhận E- Banking; Tất cả các giả thuyết dé ra (14 giả thuyết) của mô hình nghiên cứu đều được chấp nhận.