lời mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của các Ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chi nhánh tỉnh Bắc Ninh. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm và đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt a. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Để xác định được khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt, tác giả đưa ra định nghĩa về thanh toán. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thanh toán, trong bài luận văn này, tác giả thu thập và lựa chọn định nghĩa về thanh toán như sau. Trong các mối quan hiệ kinh tế, thanh toán được hiểu một cách khái quát nhất là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên.
Tiền ở đây là một phương tiện thanh toán, được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán, tiền không chỉ được sử dụng để chi trả các khoản nợ về mua chịu hàng hóa mà nó còn được sử dụng để thanh toán các khoản nợ vượt ra ngoài phạm vi trao đổi như nộp thuế, đóng góp các khoản chi dịch vụ,. Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là quá trình tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không trực tiếp bằng tiền mặt. TTKDTM chỉ được phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường và được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế tài chính đối nội cũng như đối ngoại. Sự phát triển rộng khắp của TTKDTM hiện nay là do yêu cầu phát triển vượt bậc của nền kinh tế hàng hoá.
Nền kinh tế hàng hóa phát triển càng cao, khối lượng hàng hoá trao đổi trong và ngoài nước càng lớn thì cần có những cách thức thanh toán thuận tiện, an toàn và tiết kiệm. Ngoài ra TTKDTM còn là cách thức thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả để chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng, hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của ngân hàng 8 Hay nói cách khác TTKDTM là.“Sự chuyển dịch giá trị từ tài khoản này sang tài khoản khác trong hệ thống tài khoản kế toán của các tổ chức tín dụng để thanh toán việc mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ của người thanh toán”. Khi nhận được “giấy báo có” hoặc “giấy báo nợ” do NHTM gửi đến cơ quan, doanh nghiệp hay cá nhân, sau khi hạch toán vào tài khoản thích hợp sẽ đồng thời ghi tăng hay ghi giảm tài khoản tiền gửi kỳ hạn của mình mở tại đơn vị thanh toán. Hoặc trong trường hợp sử dụng thanh toán dưới hình thức “ví tiền điện tử” thực hiện thông qua các trung gian chấp nhận thanh toán như: trung tâm thanh toán thẻ, máy POS thông qua ký hợp đồng thanh toán và được thực hiện tại ngân hàng thông qua tài khoản của người thanh toán.
Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt của NHTM - TTKDTM sử dụng tiền ghi sổ hay còn gọi là bút tệ. Đây là một trong những đặc điểm cơ bản nhất của TTKDTM. Thực hiện TTKDTM đồng nghĩa với việc thực hiện trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người thực hiện thanh toán sang tài khoản tiền gửi của người hưởng thụ tại Ngân hàng. Do đó, để thực hiện TTKDTM, người sử dụng dịch vụ phải mở tài khoản tại Ngân hàng thương mại.
- Sự vận động của tiền tệ có thể tách rời hoặc độc lập tương đối với sự vận động của hàng hóa về không gian và thời gian. Cụ thể hơn, việc giao nhận hàng hóa có thể được tiến hành tại một thời điểm của một nơi nào đó nhưng việc thanh toán có thể được thực hiện tại một địa đểm của một nơi khác. - Để thực hiện TTKDTM, mỗi khoản thanh toán ít nhất có ba bên tham gia: Người trả tiền, trung gian thanh toán, và Ngân hàng thương mại. Người trả tiền ở đây có thể là người mua hàng, người sử dụng dịch vụ, nộp thuế, trả nợ,.
Người nhận tiền, còn có cách gọi khác là người thụ hưởng, là đối tượng được hưởng một khoản tiền nào đó do đã bán hàng, cung cấp dịch vụ,… Trung gian thanh toán là các Ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ thanh toán cho người trả tiền và người nhận tiền. Các trung gian thanh toán này sẽ được hưởng lệ phí dịch vụ thanh toán. Thông thường sẽ có một hoặc hai trung gian thanh toán trong TTKDTM. - Trong quá trình thực hiện TTKDTM, các trung gian thanh toán (Ngân hàng Thương mại) đóng vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong phương thức 9 này.
Nếu như thanh toán bằng tiền mặt được thực hiện bằng mối quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán thì thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện thông qua sự tham gia của ít nhất một ngân hàng. Do đó, ngân hàng đóng vai trò không thể thiếu trong thanh toán chuyển khoản, và trở thành trung gian thanh toán cho toàn xã hội. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt TTKDTM đóng vai trò nhất định đối với tất cả các bên, bao gồm nền kinh tế, ngân hàng, và người sử dụng dịch vụ. o Đối với nền kinh tế Làm giảm các chi phí liên quan đến việc in ấn, vận chuyển tiền mặt: Khi chưa có sự ra đời của TTKDTM, ngân hàng sẽ phải in tiền mặt và phát hành ra thị trường.
Chi phí để in và phát hành tiền giấy rất tốn kém. Sự phát triển của TTKDTM sẽ hạn chế việc sử dụng thanh toán bằng tiền mặt, do đó, lượng tiền lưu thông trên thị trường sẽ giảm đi. Cùng với đó, nhu cầu cho việc sản xuất, in ấn tiền giấy phục vụ cho thanh toán sẽ ít hơn. Nhà nước sẽ tiết kiệm được chi phí trong việc in ấn, vận chuyển tiền giấy cũng như thuê lao động.
Điều này góp phần nâng cao giá trị đồng tiền, làm giảm lạm phát. Giúp tăng hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước: Các khoản thu, chi của các doanh nghiệp hay cá nhân đều được thể hiện qua tài khoản ngân hàng, điều này thể hiện tình hình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. ban quản lý ngân sách nhà nước có thể sễ dàng kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đảm bảo nguyên tắc thu, chi tài chính. Tăng khả năng kiểm soát lạm phát: TTKDTM cũng là một công cụ giúp ngân hàng trung ương điều phối lượng tiền mặt một cách gián tiếp.
Ngân hàng trung ương có thể khống chế được tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ tái chiết khấu,… Điều này giúp cho nền kinh tế nước nhà phát triển ổn định hơn. Đặc biêt, việc TTKDTM còn giúp chống lại hành vi rửa tiền vẫn còn tồn tại hiện nay. Việc luân chuyển tiền tệ giữa các cá thể là một tiền đề để nhà nước ban hành các chính sách cần thiết để quản lý. o Đối với Ngân hàng thương mại 10 Giúp các ngân hàng có cái nhìn sát sao hơn về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, hoặc cá nhân: các ngân hàng có thể giám sát tình hình thu, chi của các doanh nghiệp và cá nhân.
Từ đó, ngân hàng có thể làm căn cứ cho vay, thu nợ. Qua việc giám sát chặc chẽ hoạt động của các doanh nghiệp, ngân hàng có thể có những khuyến nghị giúp đỡ những doanh nghiệp phát triển hơn nữa. Đồng thời, ngân hàng có thể kiểm soát được tình hình quản lý tiền tệ, chấp hành các nguyên tắc trong thanh toán,… Tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng: Khi khách hàng sử dụng dịch vụ TTKDTM, điều này có nghĩa là các ngân hàng sẽ bù trữ lẫn nhau thay vì sử dụng tiền giấy. Vì vậy, việc thanh toán được nhanh chóng và thuận lợi hơn.
Điều này giúp cho việc tích tụ các nguồn vốn mà khách hàng để trong tài khoản chưa sử dụng đến vào các cơ quan tín dụng. Loại hình tiền gửi này làm sinh lời thêm cho ngân hàng vì việc gửi tiền hay thanh toán đều mất phí. Tăng nguồn vốn cho ngân hàng: TTKDM phát triển không chỉ giúp cho các doanh nghiệp lưu thông vốn phục vụ cho sản xuất nhanh hơn mà còn giúp cho các ngân hàng mở rộng vốn cho vay. Nhiều người sử dụng dịch vụ TTKDTM sẽ làm cho khối lượng tiền mặt trên thị trường giảm đi và nguồn vốn của các ngân hàng tăng lên.
TTKDTM vừa thúc đẩy vòng quay vốn của xã hội vừa làm tăng nhu cầu vay vốn. Dựa trên cơ sở đó, các ngân hàng có thể mở rộng quy mô cho vay vốn, giúp ngân hàng phát triển lớn mạnh hơn. Giúp hệ thống ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền: Bằng việc sử dụng dịch vụ TTKDTM, ngân hàng sẽ trích tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân hoặc doanh nghiệp mở tại ngân hàng đó và chuyển vào tài khoản tiền gửi của người hưởng. Ngân hàng của người thụ hưởng lại sử dụng khoản tiền này như một nguồn vốn để cho vay, số tiền cho vay này lại được cá nhân hoặc doanh nghiệp sử dụng để mua bán hàng hóa, dịch vụ.
Theo vòng quay như vậy, “hệ thống ngân hàng đã giúp cho việc từ một số tiền gửi ban đầu đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. o Đối với khách hàng 11 Thúc đẩy quá trình sản xuất, luân chuyển vốn: Trong quá trình mua bán, đơn vị mua hàng sẽ phải thanh toán cho đơn vị bán hàng, đơn vị bán hàng sẽ có trách nhiệm giao hàng cho bên mua. Các ngân hàng đã góp phần quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình thanh toán giữa các bên thông qua các phương thức TTKDTM. Thay vì phải gặp trực tiếp hoặc gửi tiền mặt như trước, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng các phương thức TTKDTM.
TTKDTM giúp cho các doanh nghiệp sản xuất cũng như cung cấp dịch vụ tiết kiệm thời gian hơn trong việc thanh toán, nhờ đó quá trình luân chuyển vốn và sản xuất diễn ra nhanh hơn. Các doanh nghiệp có thể tăng tích lũy cho quá trình sản xuất.