Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt. Chương 2: Thực trạng về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù tác giả đã cố gắng thu thập số liệu, phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp nhƣng chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết.
Tác giả rất mong nhận đƣợc sự góp ý của Quý thầy cô và ngƣời đọc. Xin chân thành cảm ơn. 10 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. Khái quát về thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTM 1.
Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng TMCP Theo Noe Capon (2009), thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán không trực tiếp sử dụng tiền mặt và đƣợc thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản của các chủ thể liên quan đến số tiền phải thanh toán hoặc dựa vào các chứng từ hợp pháp nhƣ giấy nhờ thu, giấy ủy nhiệm chi, séc v.v để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của đợn vị này sang tài khoản của đợn vị khác ở ngân hàng. Hay nói một cách khác thanh toán không dùng tiền mặt là việc thanh toán không sử dụng đến tiền mặt mà dùng hình thức trích chuyển vốn trên tài khoản từ tài khoản của ngƣời phải trả sang tài khoản của ngƣời thụ hƣởng, hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của tổ chức thanh toán. Các tài khoản này đều đƣợc mở tại Ngân hàng và thực hiện giao dịch thông qua các loại chứng từ hợp pháp nhƣ: ủy nhiệm chi, séc, … hay các ứng dụng ngân hàng điện tử, ví điện tử,… để trích chuyển vốn của đơn vị giao dịch ở tại ngân hàng hay tổ chức tài chính do pháp luật quy định. Theo hƣớng dẫn của thông tƣ số 46/2014/NHNN của ngân hàng Nhà nƣớc và quy định tại Nghị định số 10/VBHN-NHNN ngày 22/02/ 2019 của NHNNvề thanh toán không dùng tiền mặt, nhƣ sau: “Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là dịch vụ thanh toán) bao gồm dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán và một số dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng”[13] Dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng, bao gồm: Cung ứng phƣơng tiện thanh toán; Thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thƣ tín dụng, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ; Các dịch vụ thanh toán khác.
Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng gồm: Ngân hàng Nhà nƣớc cung ứng các dịch vụ thanh toán cho các khách hàng mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Nhà nƣớc; 11 Ngân hàng thƣơng mại, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, ngân hàng chính sách cung ứng tất cả các dịch vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này; Ngân hàng hợp tác xã đƣợc cung ứng một số dịch vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này sau khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận. Dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng: Dịch vụ chuyển tiền Thu hộ Chi hộ. Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng Các ngân hàng đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 10/VBHN- NHNN ngày 22/02/ 2019 của NHNN đƣợc cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán cho khách hàng; Quỹ tín dụng nhân dân đƣợc cung ứng dịch vụ chuyển tiền, thực hiện các nghiệp vụ thu hộ, chi hộ cho các thành viên của mình; Tổ chức tài chính vi mô đƣợc cung ứng dịch vụ thu hộ, chi hộ và chuyển tiền cho khách hàng tài chính vi mô; Các tổ chức khác cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc.Trong quan hệ thanh toán KDTM, Ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ tài chính cho cả bên mua và bên bán với mức phí dịch vụ thích hợp. Theo tác giả Đặng Công Hoàn (2015): “TTKDTM là một hoạt động dịch vụ thanh toán đƣợc thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ/phƣơng thức thanh toán để bù trừtiền từ tài khoản/hạn mức tiền của ngƣời phải trả sang tài khoản của ngƣời thụ hƣởng hoặc đƣợc bù trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng DVTT”.
Theo tác giả Đỗ Thị Khánh Ngọc (2014): “Thanh toán không dùng tiền mặt là những khoản thanh toán thực hiện bằng cách trích tiền từ tài khoản của ngƣời phải trả sang tài khoản của ngƣời ngƣời thụ hƣởng hoặc bù trừ lẫn nhau thông qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán”. [17] 12 Từ những quan điểm trên, có thể hiểu Thanh toán không dùng tiền mặt là một hình thức vận động của tiền tệ. Trong TTKDTM, các NHTM đóng vai trò trung gian thực hiện yêu cầu của khách hàng nhằm thỏa mãn mục đích của họ thông qua các hình thức thanh toán, thu hộ, chi hộ, chuyển tiền…bằng cách trích chuyển trên sổ sách, ghi chép cắt chuyển tiền từ ngƣời này sang ngƣời khác, từ nơi này sang nơi khác không sử dụng đến tiền mặt. Nhƣ vậy, muốn phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cần có tổng hợp các cách thức, biện pháp của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trong đó có các NHTMđể gia tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phục vụ khách hàng.Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt Sự ra đời của thanh toán KDTM gắn liền với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ và sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng.
Sự tồn tại và lớn mạnh cuả hệ thống này đã tạo điều kiện cho cá nhân và các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng và thực hiện việc thanh toán thông qua việc chuyển khoản trong hệ thống ngân hàng. TTKDTM là một hình thức vận động tiền tệ mà ở đây tiền vừa là công cụ để kế toán, vừa là công cụ để chuyển hóa hình thức giá trị của hàng hóa dịch vụ. Thanh toán không dùng tiền là một phạm trù vừa mang tính chất lý thuyết trừu tƣợng vừa mang tính chất công nghệ cụ thể. Về bản chất, hình thức thanh toán này giúp hạn chế lƣợng tiền mặt lƣu hành trên thị trƣờng hàng hóa.
Nó cũng là phƣơng tiện giúp cho quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ đƣợc thực hiện dễ dàng hơn giảm thiểu chi phí xã hội và lạm phát. Theo Bùi Thu Hằng (2020) bản chất của thanh toán KDTM đƣợc thể hiện rõ hơn qua các điểm sau: [16] Tiền tệ và hàng hóa, dịch vụ vận động tƣơng đối độc lập với nhau. Tiền tệ đƣợc xã hội sử dụng với tƣ cách là vật trung gian trong quá trình trao đổi hàng hoá các hàng hóa trƣớc tiên sẽ đƣợc đổi ra tiền sau đó ngƣời ta dùng tiền đó để đổi lấy hàng hóa khác. Khi thực hiện chức năng này, tiền tệ chỉ đóng vai trò môi giới giúp cho việc trao đổi thực hiện đƣợc dễ dàng, do vậy tiền chỉ xuất hiện 13 thoáng qua trong trao đổi mà thôi.
Quá trình lƣu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mƣợn, trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng v.v trong những trƣờng hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán và trao đổi. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Nhƣ vậy, trong trao đổi ngƣời ta đổi hàng hóa lấy tiền không phải vì bản thân nó mà vì những gì nó sẽ đổi đƣợc. Tiền tệ đƣợc xem là phƣơng tiện chứ không phải là mục đích của trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.
Các chủ thể tham gia thanh toán phải mở tài khoản tại ngân hàng để tham gia giao dịch. Các bên tham gia thanh toán (bên mua và bên bán) đều đƣợc quyền lựa chọn ngân hàng để mở tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán tại một ngân hàng có cung cấp dịch vụ thanh toán. Đây là đặc điểm riêng có của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Chủ tài khoản (bên mua) sẽ tiến hành thanh toán cho bên bán thông qua tài khoản này theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và phải trả phí thanh toán cho ngân hàng làm dịch vụ thanh toán theo quy định.
“Tuân thủ” pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy xu hƣớng thanh toán KDTM đặc biệt đối với các loại hình giao dịch có liên quan đến tài sản công/ dịch vụ công, tài sản có giá trị lớn, thuộc diện phải quản lý tài sản và thu nhập (bất động sản/chứng khoán/ô tô.), các giao dịch ngoại hối. Để đảm bảo yêu cầu thanh toán đầy đủ, kịp thời chủ tài khoản phải có đủ số dƣ trong tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng làm dịch vụ thanh toán (hoặc hạn mức thấu chi nếu có). Các ngân hàng cũng thƣờng có các chính sách ƣu tiên/giảm phí cho các giao dịch chuyển khoản nhằm khuyến khích thanh toán KDTM. Ngân hàng thực hiện vai trò trung gian thanh toán và quản lý các phƣơng tiện thanh toán.
Khi tham gia vào quá trình thanh toán giữa ngƣời mua và ngƣời bán, NHTM cung ứng dịch vụ phải thực hiện đúng vai trò là trung gian thanh toán với chức năng thực hiện toàn bộ các khâu liên quan đến nghiệp vụ thanh toán. Do thực hiện chức 14 năng này, ngân hàng chịu trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi, nhận vốn tiền gửi vào tài khoản của khách hàng và theo dõi các khoản chi trên tài sản của khách hàng. Khi đƣợc yêu cầu, ngân hàng sẽ trích chuyển tiền từ tài khoản của bên mua vào tài khoản của bên bán và kết thúc quá trình thanh toán. Chức năng trung gian thanh toán cũng tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng cho vay để tạo ra tiền, vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng chính là một phần tiền gửi trƣớc đó.
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lƣu thông và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán.