Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng số đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng số đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức Chương 4: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng số đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nhóm các nghiên cứu về nhu cầu sử dụng dịch vụ chuyển tiền điện tử và xu thế phát triển của dịch vụ ngân hàng số Nguyễn Thị Hằng Nga (2021) tổng hợp những lý luận cơ bản về dịch vụ ngân hàng số, những xu hướng về chuyển đổi ngân hàng số của các ngân hàng trên thế giới và tổng quan tại Việt Nam.
Đề tài đã tập trung phân tích thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng số, những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại tại BIDV trong thời gian vừa qua. Đề tài đã đề xuất 07 giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng số tại BIDV gồm: Đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại; Đa dạng hoá, phát triển các dịch vụ Ngân hàng số; Đa dạng các kênh phân phối; Tự động hoá quy trình; Phát triển nguồn nhân lực; Hợp tác với các công ty Fintech và trung gian thanh toán; Đảm bảo an ninh, an toàn cho các dịch vụ ngân hàng số. Đây là các giải pháp được đánh giá rất phù hợp với thực tiễn phát triển dịch vụ ngân hàng số tại BIDV trong thời gian tới. Nguyễn Lê Hưng (2021) nghiên cứu về những cơ hội và thách thức trong phát triển ngân hàng số tại Việt Nam.
Đề tài đã chỉ ra, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của công cuộc chuyển đổi số, nhiều ngân hàng đã triển khai các dịch vụ ngân hàng số như: Vietcombank thử nghiệm mô hình kinh doanh số (Vietcombank digital); TPBank triển khai LiveBank giúp khách hàng đăng ký vân tay, nhận diện khuôn mặt và định danh điện tử (eKYC) giúp khách hàng đăng ký, đăng nhập tài khoản; VIB ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn vào quy trình phát hành thẻ tín dụng dành riêng cho mua sắm trực tuyến Online Plus; VPBank ra mắt ngân hàng số Yolo sau mô hình Timo; OCB ra mắt ngân hàng số OCB OMNI; Techcombank chú trọng phát triển trải nghiệm của khách hàng trên ngân hàng trực tuyến. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, thuận lợi trên, việc chuyển 5 đổi và phát triển ngân hàng số tại Việt Nam vẫn đối diện với không ít khó khăn, thách thức, cụ thể như: Khung phát lý về ngân hàng số còn chậm so với tốc độ phát triển công nghệ, Chi phí đầu tư cho công nghệ số lớn, Hạn chế về nguồn nhân lực công nghệ thông tin, Khó khăn trong bảo mật thông tin khách hàng. Lê Thị Hà Giang (2022) đã chỉ ra những tiến bộ về kỹ thuật công nghệ đã và đang làm thay đổi cấu trúc, phương thức hoạt động và cung cấp nhiều dịch vụ hiện đại của hệ thống ngân hàng, hình thành những sản phẩm dịch vụ tài chính mới và mang đến những giải pháp mới phục vụ khách hàng và giảm thiểu chi phí giao dịch, vận chuyển, quản lý, góp phần tiết kiệm về mặt tài chính cho Vietcombank. Đề tài sử dụng các chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá sự phát triển của dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank.
Kết quả chỉ ra một số hạn chế đang tồn tại ở các Chi nhánh trực thuộc hệ thống của Vietcombank như: Hệ thống đường truyền nhiều khi không ổn định; Nhiều nhân viên chưa nắm rõ hết các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp nên tư vấn thông tin còn thiếu chính xác, chưa khơi gợi đúng nhu cầu của khách hàng; Danh mục sản phẩm mới chỉ có các sản phẩm cơ bản, tính năng của các dịch vụ còn chưa đa dạng; Tăng trưởng dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng của ngân hàng. Từ những hạn chế đó, đề tài đã đề xuất nhóm 05 giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank như: Nâng cao chất lượng đường truyền nội bộ và internet; Cải thiện năng lực cán bộ nhân viên; Phát triển và hoàn thiện các tiện ích mở rộng trong dịch vụ ngân hàng số cơ bản. Nhóm các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng số tại ngân hàng thương mại Nguyễn Thu Thủy (2020) nghiên cứu tập trung vào thực trạng phát triển ngân hàng số tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới gồm: Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên, phát triển ngân hàng số tại Việt Nam còn gặp phải một số khó khăn gồm: Khuôn khổ pháp lý và công nghệ; Kỹ thuật cũng như thói quen sử dụng dịch vụ ngân hàng mới của khách hàng.
Cụ thể, hành lang pháp lý về ngân hàng số hiện nay chưa đầy đủ và thường đi sau sự phát triển công nghệ, ví dụ 6 như hệ thống thông tin điện tử cơ bản của công dân chưa hoàn thiện; chưa có văn bản pháp lý hoàn thiện cho các vấn đề như định danh điện tử, văn bản số (văn bản điện tử), hay chữ ký điện tử… Việt Nam chưa có chuẩn QR chung cho việc liên thông thanh toán. Ngoài ra, đề tài cũng chỉ ra rằng để phát triển dịch vụ ngân hàng số, các ngân hàng phải nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng số của mình. Các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam cũng được đề tài này phân tích cụ thể gồm 2 nhóm yếu tố khách quan và chủ quan. Trong đó, các yếu tố khách quan bao gồm: Môi trường pháp lý, Điều kiện công nghệ, Mã hóa đường truyền; Công nghệ bảo mật; Các yếu tố chủ quan gồm: Nguồn lực tài chính; Chất lượng nguồn nhân lực; Chính sách của Ngân hàng; Mạng lưới kênh phân phối; Quản trị rủi ro.
Có thể thấy, đề tài này đã chỉ ra khá chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam. Cao Ngọc Anh (2021) nghiên cứu dụng mô hình E-SERVQUAL để kiểm tra mức độ hài lòng của khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng số VCB Digibank. Dựa trên dữ liệu thu thập từ 204 khách hàng sử dụng VCB Digibank, kết quả cho thấy Hiệu quả (EF), Tin cậy (RE), Khả năng đáp ứng (RES), Đảm bảo (AS), Đồng cảm (EM) và Giá cả (PR) ảnh hưởng đáng kể và tích cực đến sự hài lòng của khách hàng đối với các dịch vụ của VCB Digibank, trong đó Đồng cảm có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Đề tài cũng đưa ra các giải pháp có giá trị cho Vietcombank trong việc thúc đẩy các dịch vụ ngân hàng số, hướng tới mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy sự chấp nhận của khách hàng, cải thiện sự hài lòng của khách hàng và nâng cao long trung thành của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số trong tương lai.
Trần Đình Thắng (2022) nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy nhị phân logistic nhị phân để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số (ngân hàng số) tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, thông tin qua khảo sát khách hàng trong khoảng thời gian từ tháng 9/2021 đến tháng 12/2021. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực của các nhân tố thành tích thương mại của ngân hàng, quan hệ với ngân hàng, ảnh hưởng của xã hội, công nghệ và bảo mật đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng 7 số. Trong số các nhân tố này, thì nhân tố công nghệ có tác động lớn nhất đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất các khuyến nghị nhằm phát triển các dịch vụ ngân hàng số tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong tương lai.
Nhóm các nghiên cứu về bảo mật thông tin trong ứng dụng mô hình ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại Nguyễn Thị Hồng Lam (2018) đã chỉ ra các công nghệ đang được Agribank sử dụng để bảo mật thông tin khách hàng trong thanh toán trực tuyến như: Sử dụng giao thức giao dịch điện tử bảo mật SET và IPsec; Sử dụng phần mềm IPCAS (the modernizatio of interbank payment and customer accounting system). Trong quá trình nghiên cứu về thực trạng bảo mật thông tin khách hàng trong thanh toán trực tuyến tại Agribank cho cho thấy một số hạn chế đang tồn tại như sau: Cơ sở hạ tầng truyền thông còn nhiều hạn chế về tốc độ, chất lượng đường truyền; Vấn đề phân công trách nhiệm bảo mật thông tin, nhận thức và huấn luyện về bảo mật thông tin còn hạn chế; Ứng dụng IPCAS chưa hoàn thiện. Từ những hạn chế được nêu ra, đề tài đã đề xuất các nhóm giải pháp bảo mật thông tin khách hàng trong thanh toán trực tuyến tại Agribank trong thời gian tới như: Hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực vận hành hệ thống bảo mật; Nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ ngân hàng; Nâng cấp chế độ bảo mật (Xây dựng và hoàn thiện Active Directory; Nâng cấp hệ thống PKI (public key infrastructure); Hoàn thiện hệ thống an ninh. Nguyễn Thị Thái Hưng (2020) phân tích thực trạng bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam.
Trong đó, nghiên cứu chỉ ra những rủi ro trong ứng dụng mô hình ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại đó là rủi ro liên quan đến bảo mật, an toàn và an ninh: Bảo mật, an ninh là một trong những vấn đề lớn nhất của ngân hàng kỹ thuật số. Ngân hàng và khách hàng phải đối mặt với những rủi ro như hacker, virus máy tính… Đề tài đã chỉ ra mức độ an toàn bảo mật thông tin hiện nay tại Việt Nam chưa cao. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam (VNISA), năm 2018, các tổ chức tín dụng và ngân hàng đạt chỉ số an toàn thông tin là 57,5% thấp so với yêu 8 cầu về an toàn thông tin mạng đặt ra. Xếp hạng an toàn bảo mật thông tin các quốc gia trên thế giới, Việt Nam hiện xếp thứ 100, thuộc diện trung bình yếu.