CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Dịch vụ thẻ thanh toán tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm thẻ thanh toán tại ngân hàng thương mại 1.1 Lịch sử ra đời của thẻ thanh toán Khi nói đến thẻ ngân hàng, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau. Tùy theo góc độ nghiên cứu, đánh giá mà người ta đưa ra những khái niệm khác nhau nhưng điểm chung và thống nhất là thẻ là phương thức trả tiền, chi tiêu.
Khách hàng có thể sử dụng thẻ để tiêu dùng số tiền của mình như rút tiền mặt, chuyển tiền để thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Đây không phải là tiền mà là biểu tượng của sự cam kết với khách hàng, chủ thẻ có tiền để mua hàng hóa, dịch vụ dựa vào số dư tài khoản tiền gửi của họ tại ngân hàng hoặc hạn mức tín dụng do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho họ. Sự ra đời của thẻ có thể coi là một thành công lớn trong ngành ngân hàng, đó thực sự là một “cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính tiêu dùng cá nhân”. Nếu không có thẻ thanh toán vào những năm 1970, 1980 thì buôn bán lẻ không thể phát triển bùng nổ như hiện nay.
Thẻ ngân hàng được phát minh và xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914, nó xuất phát từ thói quen mua chịu của các chủ cửa hàng tạp hóa (lợi dụng danh tiếng của khách hàng trong cửa hàng khi một số khách hàng và nhân viên của California Petroleum Corporation chấp nhận thẻ). Năm 1946, Ngân hàng John Biggins phát hành thẻ ngân hàng Charge-It tại Mỹ, khách hàng có thể thực hiện giao dịch trong nước bằng tài khoản có giá trị cao do ngân hàng phát hành. Năm 1950, chiếc thẻ tín dụng nhựa đầu tiên được phát hành bởi Diners Club (ý tưởng của ông Frank NcNamar, người sáng lập Diners Club), năm 1958 Công ty American Express chính thức gia nhập thị trường thẻ ngân hàng và tên công ty được công bố. Đây là sự khởi đầu cho sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ thẻ vào năm 1966.
Cùng năm đó, Bank of American đã ký thỏa thuận đại lý và trao cho các đối tác của mình quyền phát hành thẻ BankAmerican. Năm 1977, thẻ ngân hàng Bank of American được công nhận rộng rãi và được chấp nhận thanh toán trên toàn thế giới. Tên chính thức của thẻ Visa 9 kể từ đó đã mang những màu sắc đặc trưng: trắng, xanh và vàng. Cũng trong năm 1966, tại miền Đông nước Mỹ, ba tập đoàn ngân hàng lớn sáp nhập và tập đoàn tín dụng riêng là Hiệp hội thẻ liên ngân hàng (ICA) ra đời để cạnh tranh với Bank of America, ICA, sau đổi thành MasterCard.
Hơn 25 năm qua, thẻ ngân hàng đã thực sự phát triển vượt bậc, mạng lưới thành viên và khách hàng ngày càng vững mạnh, tổ chức thẻ quốc tế này đã xây dựng hệ thống quản lý rủi ro, trao đổi thông tin, xử lý các giao dịch toàn cầu khi phát hành thẻ, cấp phép thẻ, thanh toán thẻ, séc giao dịch thẻ, khiếu nại về việc sử dụng thẻ. Mặt khác, với hàng tỷ USD giao dịch hàng năm, thẻ ngân hàng cũng đang thực sự cạnh tranh gay gắt với séc và tiền mặt trong ngành thanh toán toàn cầu. Ngoài hai tổ chức thẻ Master và Visa có dịch vụ ngày càng phát triển, còn có nhiều tổ chức thẻ khác như American Express, JCB, Eurocard. Ngày nay, khách hàng không phải lo lắng về việc chuyển đổi nội tệ sang ngoại tệ khi ra nước ngoài mà sử dụng thẻ thông thường ở hầu hết các ngân hàng trên thế giới.
Nhìn từ những góc độ khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về thẻ thanh toán như: Dưới góc độ phát hành: Thẻ thanh toán là một biện pháp do ngân hàng thương mại/tổ chức tài chính/công ty phát hành để rút tiền mặt, thanh toán hàng hóa, dịch vụ. do ngân hàng, công ty phát hành hoặc do các tổ chức khác cung cấp. Theo công nghệ thanh toán: thanh toán thẻ là hình thức thanh toán giao dịch bằng cách ghi nhận số tiền thanh toán giao dịch và được thực hiện thông qua hệ thống thanh toán điện tử được kết nối giữa các bên tham gia thông qua hệ thống thanh toán. Hệ thống xương sống là các thiết bị công nghệ thông tin trong ngân hàng.
Có ba thành viên tham gia giao dịch thẻ: chủ thẻ (khách hàng), ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ (cung cấp hàng hóa, dịch vụ). Phát hành và thanh toán thẻ cho ngân hàng là hoạt động bao gồm các nghiệp vụ như huy động vốn, cho vay, thanh toán trong nước và quốc tế.2 Đặc điểm cơ bản của thẻ thanh toán Cấu trúc thẻ: Nhờ quá trình lựa chọn sơ bộ từ thẻ kim loại nên đến nay hầu hết các loại thẻ đều được làm bằng nhựa với kích thước tiêu chuẩn quốc tế là 8,4 cm x 5,4 cm x 0,76 cm. Thẻ xuất hiện các thông số nhận dạng như: logo, tên tổ chức phát 10 hành thẻ, họ tên chủ thẻ, nhận diện thương hiệu thẻ, số thẻ, ngày có hiệu lực. và một số tính năng quy định khác trong Hiệp hội các tổ chức phát hành thẻ hoặc Tổ chức thẻ quốc tế.
- Mặt trước thẻ: Ký hiệu thẻ: Mỗi loại thẻ thể hiện đặc điểm của tổ chức phát hành, thẻ có ký hiệu riêng và còn được coi là biện pháp bảo đảm chống làm giả. Ví dụ về thẻ Visa, Mastercard, JCB. Đặc điểm thẻ Visa: Thẻ hình chữ nhật có hai màu xanh và tím, với màu tím làm chủ đạo và dòng chữ màu xanh nổi bật ở góc dưới bên phải mặt trước thẻ. Mã số thẻ: Mã số thẻ được in nổi, mỗi chủ thẻ có một mã số duy nhất, khi thanh toán bằng thẻ, mã số thẻ được in trên hóa đơn, mỗi thẻ có cấu trúc mã hoặc dãy số khác nhau.
Ngày hết hạn của thẻ: là khoảng thời gian thẻ được lưu hành, tùy theo loại thẻ mà có nhiều cách ghi khác nhau (theo ngày thẻ còn hiệu lực sử dụng lần cuối hoặc từ ngày sử dụng đầu tiên đến ngày hết hạn sử dụng của thẻ). Họ và tên chủ thẻ: là tên đầy đủ ghi trên thẻ (tên chủ thẻ nếu là thẻ cá nhân, họ tên người được ủy quyền sử dụng thẻ nếu là thẻ doanh nghiệp). Mã phát hành, dấu bảo mật: Ký hiệu bảo mật thường được in trên mỗi thẻ, thường là ngay sau khi thẻ hết hạn. Ngoài ra, số mật khẩu mỗi lần rút tiền cũng được in trên thẻ.
- Mặt sau của thẻ: Dải từ có thể lưu trữ các thông tin như: tên khách hàng (chủ thẻ), số thẻ, ngân hàng phát hành, ngày hiệu lực. Đặt chữ ký của chủ thẻ lên dải: chữ ký của chủ thẻ phải được thể hiện rõ ràng trên dải này và đây cũng là cơ sở để tổ chức phát hành thẻ đối chiếu với chữ ký của chủ thẻ khi thanh toán dịch vụ. Thông tin liên quan giữa ngân hàng và khách hàng: thông tin liên hệ ngân hàng khi khách hàng yêu cầu. Phân loại thẻ thanh toán 11 Đứng trên nhiều góc độ khác nhau để phân loại thì có thể chia thành các loại thẻ như sau (xem sơ đồ 1.
Thẻ thanh toán Đặc điểm kỹ Chủ thể phát Tính chất Hạn mức tín Phạm vi sử thuật hành thanh toán dụng dụng Thẻ do Thẻ Thẻ tổ chức Thẻ do Thẻ tín Thẻ Thẻ Thẻ Thẻ Thẻ Thẻ băng thông ngân phi dụng ghi nợ rút hạng hạng thanh thanh từ minh hàng ngân tiền vàng thường toán toán (thẻ phát hàng mặt trong quốc tế chíp) hành phát nước hành Sơ đồ 1.1: Phân loại thẻ ngân hàng - Phân loại theo đặc tính kỹ thuật: Thẻ băng từ: Thẻ từ được tạo ra bằng công nghệ từ tính với băng từ chứa các khe thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ đã được sử dụng rộng rãi trong 20 năm qua, tuy nhiên, do thẻ chỉ chứa thông tin chắc chắn nên lượng thông tin trên thẻ ít và không thể sử dụng các kỹ thuật mã hóa để đảm bảo an ninh và tự mã hóa được nên dữ liệu và tiền của chủ thẻ có thể dễ dàng bị đánh cắp. Thẻ chip (thẻ thông minh): đây là loại thẻ thế hệ mới nhất, có độ an toàn bảo mật rất cao, thẻ có cấu trúc giống như một chiếc máy tính mini lý tưởng (có lắp chip điện tử) nhưng chi phí sử dụng thẻ và thanh toán trang thiết bị tương đối cao nên việc sử dụng loại thẻ này còn khá hạn chế. - Phân loại theo nhà sản xuất: Thẻ do ngân hàng phát hành: Thẻ do ngân hàng phát hành là loại thẻ thanh toán 12 do ngân hàng thương mại phát hành nhằm cung cấp cho khách hàng sản phẩm tiện ích để thanh toán bằng tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tận dụng hạn mức tín dụng một loại thẻ nào đó do ngân hàng phát hành, đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến hiện nay.
Mặt khác, thẻ thanh toán không chỉ được sử dụng ở một số quốc gia mà còn phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới như Master, Visa. Thẻ do các tổ chức phát hành (không phải thẻ ngân hàng): đây là các loại thẻ du lịch, thẻ giải trí do các công ty lớn như Amex, Diners Club phát hành… tất cả các loại thẻ này cũng được chấp nhận và phân phối rộng rãi trên toàn thế giới. - Phân loại thẻ theo tính chất thanh toán: Thẻ tín dụng là một loại thẻ khá phổ biến. Chủ thẻ nhận được một hạn mức tín dụng nhất định từ tổ chức phát hành để thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ tại cơ sở nhận thẻ và cho phép thanh toán bằng thẻ này.
Hạn mức tín dụng được tổ chức phát hành cấp cho khách hàng dựa trên tài sản thế chấp và năng lực tài chính của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ được tiêu tiền trong hạn mức được ngân hàng đưa ra. Khách hàng thường phải trả gốc hàng tháng và lãi cho ngân hàng phát hành. Tùy theo điều kiện và quy định của từng ngân hàng phát hành, lãi suất cho vay được quy định khác nhau.
Thẻ ghi nợ: Là phương thức cho phép chủ thẻ thanh toán hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt dựa trên số dư trên tài khoản ngân hàng của chủ thẻ. Một số khác biệt giữa thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ: Với thẻ tín dụng: khách hàng chỉ được sử dụng tối đa hạn mức tín dụng do ngân hàng phát hành đưa ra. Đối với thẻ ghi nợ: khách hàng chi tiền trực tiếp vào tài khoản tiền gửi ngân hàng.