CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH (FINTECH) VÀ TÁC ĐỘNG CỦA FINTECH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về công nghệ tài chính (Fintech): 1. Khái niệm Fintech: Ủy ban Basel (2018) đã chấp nhận một định nghĩa của Ban An toàn Tài chính (Financial Stability Board – FSB) từ năm 2016 về Fintech, qua đó “Fintech là các sáng tạo về công nghệ tài chính có thể cho phép hình thành các mô hình kinh doanh, các ứng dụng, các tiến trình hay sản phẩm mới có thể mang đến những tác động quan trọng cho thị trường tài chính, cho các thể chế và cho việc cung ứng dịch vụ tài chính”. Điểm đáng quan tâm trong định nghĩa trên của FSB là Fintech không chỉ là các hoạt động của riêng công ty Fintech, mà còn là hoạt động của các ngân hàng hiện hữu.
Định nghĩa này cũng hữu ích trong việc phân tích các cơ sở cho các chiến lược hợp tác, hay cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Fintech và ngân hàng. Fintech tác động mạnh mẽ tới hệ sinh thái tài chính - ngân hàng, bao gồm cung, cầu, hệ thống hỗ trợ và khung pháp lý. Trong đó, hệ thống ngân hàng truyền thống chịu tác động nhiều nhất, cả về nghiệp vụ và quản trị (Nguyễn Đình Hoàn và Lê Thị Mai Anh, 2019). Theo các tác giả Maoyong Cheng, Yang Qu (2020), Qun Zhao và cộng sự (2019), Rui Wang và cộng sự (2020), Nguyễn Đình Hoàn và Lê Thị Mai Anh (2019), Nguyen Thi Kim Lien và cộng sự (2020), Julia Kagan (2020), Sean Peek (2020), Pham Ha Thanh, Doan Minh Duc, Nguyen Hoang Hien (2022), “Fintech” là sự kết hợp giữa hai từ “Finance” và “Technology”, “Tài chính” và “Công nghệ”, tức là hoạt động ứng dụng các công nghệ mới vào trong sản phẩm dịch vụ tài chính truyền thống nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ với chi phí rẻ hơn.
Công nghệ mới ở đây bao gồm điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI - Artificial Intelligence), dữ liệu lớn (Big data), công nghệ Blockchain, công nghệ Internet. Sự kết hợp này thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng với các sản phẩm dịch vụ sáng tạo hơn bao gồm ngân hàng trực tuyến, ứng dụng thanh toán di động, tiền điện tử, cho vay ngang hàng (peer-to- peer lending), huy động vốn từ cộng đồng, quản lý tài sản,… Các dịch vụ này có thể được hình thành dựa trên những ý tưởng sáng tạo mới hoặc cũ nhưng sẽ được cung 11 cấp theo cách mới với mục đích đơn giản hóa các thủ tục giao dịch, cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính của khách hàng (Gomber và cộng sự, 2017; Milian, Spinola, & Carvalho, 2019; Phan, Nguyen, & Bui, 2019). Có thể thấy được, hầu hết các tác giả đều có nét nhận định tương đồng với định nghĩa “Fintech” của Ban An toàn Tài chính (Financial Stability Board – FSB) năm 2016. Một số tác giả khác như Wesley-James (2015), Schueffel (2016), Navaretti et al.
(2018), Max Bömer, Hannes Maxin (2018), Yixuan Li và cộng sự (2019), Taisiia Zinakova (2020) lại định nghĩa “FinTech” là các công ty cung cấp công nghệ cho ngân hàng và tài chính doanh nghiệp, thị trường vốn, phân tích dữ liệu tài chính, thanh toán và quản lý tài chính cá nhân, các công ty này áp dụng công nghệ để cải thiện hoạt động tài chính và được phân loại theo loại hình kinh doanh chẳng hạn như các công ty thanh toán FinTech và các công ty cho vay FinTech. Ngày nay, Fintech đã mở rộng ra không chỉ là một công ty khởi nghiệp. Nó trở thành vô số các công ty cung cấp nhiều loại dịch vụ ngân hàng và hoạt động ở khắp mọi nơi. Fintech gần đây đã trở thành chương trình phát triển chính của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á- ASEAN (Alice Yong-Zheng Huong và cộng sự, 2019).
Không cùng quan điểm với các tác giả kể trên, Vasiljeva và Lukanova (2016) đã cô đọng các định nghĩa về “Fintech” từ nhiều nguồn và đề xuất định nghĩa của thuật ngữ như sau: FinTech là một ngành theo định hướng thu xếp các dịch vụ tài chính cho các cá nhân và ngành công nghiệp tư nhân với mục đích cung cấp các giải pháp hướng đến khách hàng theo cách hiệu quả nhất và với chi phí thấp nhất có thể, đảm bảo điều này thông qua đổi mới và công nghệ. Trong khi đó Freedman (2006) lại tuyên bố rằng FinTech kết hợp các mô hình toán học, thống kê, máy tính và kinh tế với các hệ thống tin tức và phân tích, bổ sung các hệ thống tin nhắn, giao dịch, xử lý đơn đặt hàng và thanh toán vào giai đoạn phát triển thứ hai. Theo định nghĩa của Lee và Teo (2015), FinTech là “các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính sáng tạo được cung cấp thông qua công nghệ”. Theo Đặng Thị Ngọc Lan (2018), khái niệm Fintech được bắt nguồn từ đầu những năm 1990, do Citigroup khởi sướng được gọi là “Hiệp hội Công nghệ Dịch vụ Tài chính” và chỉ đến năm 2014 mới thực sự thu hút được sự quan tâm của các nhà 12 quản lý, số lượng người tham gia ngày càng đông.
Hasnan Baber (2020) lại chỉ ra rằng thuật ngữ FinTech có nguồn gốc từ năm 1866 được Citigroup sử dụng trong một dự án được gọi là “Tổ chức Công nghệ Dịch vụ Tài chính”. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện bài nghiên cứu này, trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính xác nhất dành cho “Fintech”. Bài nghiên cứu sẽ sử dụng định nghĩa của Ban An toàn Tài chính (Financial Stability Board – FSB) từ năm 2016, nhóm tác giả Maoyong Cheng, Yang Qu (2020), Qun Zhao và cộng sự (2019), Rui Wang và cộng sự (2020), Nguyễn Đình Hoàn, Lê Thị Mai Anh (2019), Nguyen Thi Kim Lien và cộng sự (2020), Julia Kagan (2020), Sean Peek (2020), Pham Ha Thanh, Doan Minh Duc, Nguyen Hoang Hiep (2022), nhóm tác giả Wesley-James (2015), Schueffel (2016), Navaretti et al. (2018), Max Bömer, Hannes Maxin (2018), Yixuan Li và cộng sự (2019), Taisiia Zinakova (2020) để làm định nghĩa cho “Fintech” được nhắc đến trong bài.
Tóm lại, bài nghiên cứu tổng hợp định nghĩa từ các nghiên cứu đi trước và đưa ra khái niệm “Fintech” được sử dụng trong bài như sau: “Fintech” đề cập đến hoạt động ứng dụng các công nghệ mới vào trong sản phẩm dịch vụ tài chính truyền thống nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ với chi phí rẻ hơn; “Fintech” là các công ty cung cấp công nghệ cho ngân hàng và tài chính doanh nghiệp, thị trường vốn, phân tích dữ liệu tài chính, thanh toán và quản lý tài chính cá nhân, các công ty này áp dụng công nghệ để cải thiện hoạt động tài chính và được phân loại theo loại hình kinh doanh chẳng hạn như các công ty thanh toán Fintech và các công ty cho vay Fintech. Trong phần mô hình đánh giá tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại ở phần sau của bài nghiên cứu, tác giả đã đo lường biến độc lập Fintech bằng logarit tự nhiên số công ty Fintech hiện diện trong năm bằng cách dựa vào định nghĩa “Fintech” là các công ty cung cấp công nghệ, áp dụng công nghệ để cải thiện hoạt động tài chính. Lịch sử hình thành và phát triển của Fintech: Theo Arner và cộng sự (2015) phân tích lịch sử Fintech và phân loại kỷ nguyên mà nó đã phát triển, Fintech đã phát triển qua 3 mốc chính: Fintech 1.0 (1866–1967): thời đại này đã tuyên bố kết nối các dịch vụ tài chính với công nghệ nhưng nó vẫn 13 còn mang tính thủ công; Fintech 2.0 (1967-2008): kỷ nguyên này được đánh dấu bằng sự chuyển đổi ngành tài chính sang kỹ thuật số; Fintech 3.0 (2008 - nay): thời đại này cung cấp giải pháp tài chính trực tiếp cho khách hàng thay vì cung cấp hỗ trợ ngân hàng về mặt công nghệ và biến nền kinh tế không dùng tiền mặt. Đồng quan điểm về 3 mốc thời gian phát triển chính của Fintech, Mercurius Broto Legowo và cộng sự (2021) cũng nhận định Fintech 1.
Tuy nhiên, tác giả có hướng khai thác khác, Mercurius Broto Legowo và cộng sự (2021) phân tích lịch sử phát triển Fintech theo 3 giai đoạn: Fintech trong quá khứ (Fintech 1.0): Trong thời đại này, cộng đồng bắt đầu được giới thiệu các máy ATM đã trở thành bước chuyển đổi từ ngành công nghiệp tương tự sang kỹ thuật số (Prawirasasra, 2018); Fintech ở hiện tại (Fintech 2.0): Ở thời đại phát triển này, Máy rút tiền tự động (ATM) là một trong những đổi mới công nghệ đang diễn ra trong lĩnh vực tài chính thế giới (Prawirasasra, 2018); Fintech trong tương lai (Fintech 3.5): Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã diễn ra và tác động đến ngành tài chính ngân hàng (Prawirasasra, 2018). Trong kỷ nguyên Fintech 3.0, công nghệ mới nhất đang phát triển như Internet và Internet vạn vật (IoT), ngược lại, hướng tới kỷ nguyên Fintech 3.5, ngày càng nhiều công nghệ Phân tích dữ liệu sẽ phát triển trong ngành ngân hàng. Đặng Thị Ngọc Lan (2018) có sự thay đổi nhỏ về thời gian phát triển Fintech nhưng vẫn không quá khác biệt so với hai tác giả trên.0 (1866-1987): Sự ra mắt của máy tính và máy ATM vào năm 1967; Fintech 2.0 (1987-2008) là giai đoạn phát triển các dịch vụ tài chính kỹ thuật số truyền thống. Một trong những hình ảnh mang tính biểu tượng trong giai đoạn này là chiếc điện thoại di động đầu tiên được giới thiệu ở mỹ lần đầu tiên; Fintech 3.0 (2009 – nay): Một sự thay đổi tư duy đã xảy ra từ quan điểm của những nhà cung cấp dịch vụ tài chính đối với khách hàng bán lẻ.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, sự liên kết giữa các thị trường tài chính đã tạo ra nhiều yếu tố hỗ trợ cho những người tham gia thị trường này có nhiều điều kiện để sáng tạo các sản phẩm dịch vụ tài chính. Trái ngược hẳn với các tác giả trên, Maoyong Cheng, Yang Qu (2020) chỉ ra có 3 giai đoạn phát triển Fintech: Giai đoạn đầu tiên (trước năm 2010): là giai đoạn 14 tài chính Internet, được thể hiện bằng sự kết hợp ban đầu của tài chính và Internet; Giai đoạn thứ hai (2011-2015): là giai đoạn tài chính Internet di động. Vào thời điểm này, sự xuất hiện của điện thoại thông minh đã cải thiện rất nhiều hiệu quả của công nghệ Internet, nâng cao sự phát triển của công nghệ Internet di động; Giai đoạn thứ ba (sau năm 2015): là sự kết hợp giữa tài chính và các công nghệ mới nổi, chẳng hạn như công nghệ trí tuệ nhân tạo, công nghệ blockchain, công nghệ điện toán đám mây và công nghệ dữ liệu lớn.