CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Ngân hàng điện tử Cho đến nay, có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm “Ngân hàng điện tử”.
Ví dụ theo Trương Đức Bảo trên tạp chí tin học ngân hàng số 04/2003 có đưa ra khái niệm: “Ngân hàng điện tử là khả năng của một khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm thu thập thông tin hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng đó và đăng ký các dịch vụ mới”. Nếu coi ngân hàng cũng như một thành phần của nền kinh tế số, một khái niệm tổng quát nhất về NHĐT diễn đạt như sau: “Ngân hàng điện tử là ngân hàng mà tất cả các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng”. Ngân hàng điện tử có thể được“hiểu là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp qua các phương tiện kỹ thuật điện tử, khách hàng không cần đến ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được các giao dịch cũng như nắm bắt được những thông tin tài chính của mình. Hay nói một cách ngắn gọn hơn thì ngân hàng điện tử hay còn gọi với một thuật ngữ quốc tế là E-Banking được dùng rộng rãi trong hầu hết tất cả các ngân hàng trong thời gian qua.”Ngân hàng điện tử là hình thức mà khách hàng thực hiện các giao dịch tài chính ngân hàng thông qua phương tiện điện tử và công nghệ mạng.
Dịch vụ ngân hàng điện tử Tại Việt Nam, theo Quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN ngày 31/07/2006 của NHNN Việt Nam thì: “Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử. Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được các tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng 8 cho khách hàng. Phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tương ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến, mạng intranet, mạng extrane…” Như vậy, dịch vụ ngân hàng điện tử là“một loại dịch vụ được ngân hàng cung cấp đến khách hàng các sản phẩm, dịch vụ mới và truyền thống của ngân hàng thông qua các kênh phân phối điện tử tương tác như internet, điện thoại, các thiết bị thanh toán trực tuyến chuyên dụng.
Sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, khách hàng được đáp ứng các nhu cầu về dịch vụ ngân hàng mà không phải đến quầy giao dịch để gặp nhân viên ngân hàng. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử Thứ nhất, sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú: cung cấp những dịch vụ đơn giản như truy vấn thông tin, liệt kê giao dịch tài khoản,…“cho đến những dịch vụ nâng cao hơn như: chuyển tiền, mở tài khoản, gửi và tất toán sổ tiết kiệm, thu thuế điện tử vào ngân sách nhà nước, xin vay, trả nợ vay, thanh toán hóa đơn (điện, nước, truyền hình cáp…), lập thư mở L/C, có sẵn các chứng từ giao dịch trước khi đến ngân hàng giao dịch như giấy nộp tiền, rút tiền và ủy nhiệm chi cho cá nhân hay công ty…” Thứ hai, khách hàng tự phục vụ chính mình: khách hàng tự mình lựa chọn, giao dịch và hạch toán với hệ thống máy tính của ngân hàng mà không cần đến sự trợ giúp trực tiếp của nhân viên ngân hàng. Điều này dự trên cơ sở tính bảo mật của dịch vụ ngân hàng điện tử và sự minh bạch, rõ ràng trong thông tin ngân hàng. Thứ ba, chính xác, tức thời: dịch vụ ngân hàng điện tử giúp khách hàng có thể liên lạc với ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện để thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào và ở bất kỳ nơi đâu.
Vì vậy, điều này đặc biệt mang lại ý nghĩa đối với khách hàng có ít thời gian để tới trực tiếp quầy để giao dịch. Thứ tư, vốn đầu tư lớn: Để cung ứng dịch vụ ngân hàng điện tử đòi hỏi ngân hàng đầu tư một lượng vốn ban đầu khá lớn để xây dựng cơ sở vật chất, hạ 9 tầng kỹ thuật, trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại, đúng định hướng. Ngoài ra, còn có các chi phí như: chi phí cho hệ thống dự phòng, chi phí bảo trì, duy trì và phát triển sau này, đồng thời cần một đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật có trình độ để quản trị, vận hành hệ thống. Thứ năm, tiềm ẩn những rủi ro: điều quan trọng trong dịch vụ ngân hàng điện tử là vấn đề an toàn và bảo mật.
Nó liên quan đến hiệu quả hoạt động cũng như uy tín của ngân hàng. Do tính chất phức tạp của ứng dụng công nghệ thông tin và tốc độ phát triển nhanh chóng của dịch vụ ngân hàng điện tử mà mức độ rủi ro trong kinh doanh, chiến lược phát triển, bảo mật an ninh, uy tín và môi trường pháp lý trong hoạt động ngân hàng cũng ngày càng gia tăng. Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử chủ yếu 1. Máy thanh toán tại điểm bán hàng (EFTPOS) Là một thiết bị“được sử dụng để thực hiện các giao dịch thanh toán điện tử trong các cửa hàng bán lẻ, siêu thị, nhà hàng, khách sạn và các điểm bán hàng khác.
EFTPOS cho phép khách hàng thanh toán bằng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ bằng cách chèn thẻ vào thiết bị và nhập mã PIN của mình. Sau đó, thông tin sẽ được truyền đến ngân hàng của khách hàng để xác nhận việc thanh toán và chuyển tiền cho nhà bán hàng.” EFTPOS đã trở thành một phương tiện thanh toán phổ biến và tiện lợi, giúp giảm thiểu các rủi ro và chi phí liên quan đến giao dịch tiền mặt.“Ngoài ra, EFTPOS cũng cung cấp các dịch vụ liên quan đến giao dịch thanh toán như kiểm soát số tiền chi tiêu, quản lý tài khoản và định lượng doanh số bán hàng. Máy rút tiền tự động (ATM) Là một thiết bị điện tử được sử dụng để rút tiền mặt từ tài khoản ngân hàng. Với ATM, người dùng có thể thực hiện các giao dịch như rút tiền, xem số dư tài khoản, chuyển khoản, thanh toán hoá đơn và nạp tiền vào tài khoản ngân hàng của mình mà không cần phải đến ngân hàng trực tiếp.
Các máy ATM được đặt tại nhiều địa điểm khác nhau như trên đường phố, trong các tòa nhà văn phòng, các siêu thị, sân bay và nhà ga tàu điện. Các máy ATM cung cấp sự tiện lợi cho người dùng, 10 giúp họ có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện hơn. Phone banking Phone-banking là hệ thống tự động trả lời hoạt động 24/24, khách hàng nhấn vào các phím trên bàn phím điện thoại theo mã do ngân hàng quy định trước, để yêu cầu hệ thống trả lời thông tin cần thiết. Dịch vụ ngân hàng được cung cấp qua một hệ thống máy chủ và phần mềm quản lý đặt tại ngân hàng, liên kết với khách hàng thông qua tổng đài của dịch vụ.
Thông qua các phím chức năng được định nghĩa trước, khách hàng sẽ được phục vụ một cách tự động hoặc thông qua nhân viên tổng đài. Khi đăng ký sử dụng dịch vụ Phone-banking, khách hàng sẽ được cung cấp một mã khách hàng, hoặc mã tài khoản và tuỳ theo dịch vụ đăng ký, khách hàng có thể sử dụng nhiều dịch vụ khác nhau như: + Tra cứu thông tin: Số dư tài khoản (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá, tiền vay); chi tiết các giao dịch gần nhất; tổng số dư tiền gửi tiết kiệm, tổng số dư tiền vay; + Tra cứu hạn mức thẻ tín dụng, dư nợ thẻ tín dụng và thời hạn thanh toán; + Yêu cầu ngừng sử dụng các dịch vụ ngân hàng; + Thay đổi mật khẩu sử dụng dịch vụ Phone-banking. Home banking Home-banking là kênh phân phối dịch vụ của ngân hàng điện tử, cho phép khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản với ngân hàng (nơi khách hàng mở tài khoản) tại nhà, tại văn phòng công ty mà không cần đến ngân hàng. Đây là sản phẩm có tính bảo mật cao nhờ hoạt động trên mạng thông tin liên lạc cục bộ giữa ngân hàng và khách hàng (mạng Intranet).
Nhờ dịch vụ này, khách hàng tiết kiệm tối đa chi phí đi lại, chi phí thời gian mà vẫn được đảm bảo thỏa mãn nhu cầu như kênh phân phối truyền thống. Ngoài ra dịch vụ này còn cung cấp các thông tin về tỷ giá, lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ, các chương trình khuyến mại… Ứng dụng và phát triển Home-banking là một bước tiến may mắn của các ngân hàng thương mại Việt Nam trước sức ép rất lớn của tiến trình hội nhập toàn 11 cầu về dịch vụ ngân hàng. Đứng về phía khách hàng, Home-banking đã mang lại những lợi ích thiết thực như: nhanh chóng - an toàn - thuận tiện. Và khẩu hiệu “Dịch vụ ngân hàng 24 giờ mỗi ngày, 07 ngày mỗi tuần” chính là ưu thế lớn nhất mà mô hình ngân hàng “hành chính” truyền thống không thể nào sánh được.
Hiện nay, dịch vụ Home-banking tại Việt Nam đã được nhiều ngân hàng tại Việt Nam ứng dụng và triển khai rộng rãi. Internet banking Là dịch vụ ngân hàng trực tuyến được cung cấp cho khách hàng của ngân hàng để thực hiện các giao dịch tài chính trực tiếp thông qua một trang web hoặc ứng dụng di động. Với dịch vụ này, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch tài chính như chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, tra cứu thông tin tài khoản, mở tài khoản mới, đặt lệnh mua/bán chứng khoán và nhiều hơn nữa, chỉ với một vài thao tác đơn giản trên thiết bị di động hoặc máy tính cá nhân. Các giao dịch tài chính qua Internet banking thường được bảo mật bằng cách sử dụng các phương thức xác thực như mật khẩu, mã OTP, chữ ký số, vân tay hoặc nhận diện khuôn mặt.
Bằng cách sử dụng Internet banking, khách hàng có thể tiết kiệm thời gian và tiền bạc của mình mà không cần phải đến ngân hàng để thực hiện các giao dịch tài chính truyền thống. Đồng thời, việc sử dụng Internet banking còn giúp khách hàng có thể kiểm soát được tài chính của mình một cách dễ dàng và thuận tiện hơn.