CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại 1.1 Dịch vụ ngân hàng điện tử Theo Kim Đức Thịnh (2009), Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking viết tắt là E-Banking) được hiểu như sau: Theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã định nghĩa về dịch vụ NHĐT. Các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối: Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…được gọi là dịch vụ NHĐT [17].
Dịch vụ NHĐT là một dạng của thương mại điện tử (electronic commerce) ứng dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đồng thời, NHĐT là một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách hàng truy xuất thông tin hay thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua các giao thức và phương tiện điện tử và kỹ thuật số. Các NHTM ở các nước tiên tiến trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã và đang phát triển mạnh mẽ các dịch vụ NHĐT[16]. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước, 2019), kể từ khi xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2004, tính đến nay đã có 46/46 NHTM tại Việt Nam cung ứng dịch vụ NHĐT.
Tính đến 31/12/2019, Việt Nam mới chỉ có 45,8 triệu/92,6 triệu người dân (tỷ lệ 63%) đang sử dụng tài khoản ngân hàng do đó tiềm năng để phát triển dịch vụ NHĐT còn rất lớn. 10 Tiềm năng và thị phần của dịch vụ NHĐT tại Việt Nam còn rất lớn nhưng để phát triển dịch vụ NHĐT lại là điều không dễ thực hiện cho các NHTM do vẫn còn một số khó khăn như: tâm lý ưu tiên sử dụng tiền mặt trong thanh toán của người dân; chi phí xây dựng hệ thống lưu trữ dữ liệu điện tử và hạ tầng NHĐT khá lớn bao gồm cả chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vận hành, chi phí bảo trì, phát triển, đổi mới công nghệ; rủi ro an toàn và bảo mật thông tin cũng là thách thức lớn cho các NHTM khi phát triển dịch vụ NHĐT.2 Đặc trưng của dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ NHĐT có các đặc trưng cơ bản như sau: - Dịch vụ NHĐT tử có tốc độ xử lý giao dịch nhanh chóng: Dịch vụ NHĐT giúp khách hàng thực hiện các giao dịch với ngân hàng thông qua hệ thống thiết bị điện tử với thời gian nhanh nhất, giúp khách hàng tiết giảm thời gian, công sức, chi phí cơ hội so với việc trực tiếp đến quầy giao dịch. Thời gian xử lý giao dịch NHĐT ngày càng giảm nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Các NHTM đều chú trọng nâng cấp hệ thống core banking, hạ tầng công nghệ thông tin để có thể mang lại các dịch vụ NHĐT ổn định nhất, có thời gian xử lý giao dịch nhanh nhất để nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như tối ưu hoá trải nghiệm cho khách hàng [22].
- Dịch vụ NHĐT không bị giới hạn về không gian và thời gian: Dịch vụ NHĐT hoạt động dựa trên hạ tầng công nghệ thông tin của ngân hàng và có thể hoạt động 24/7. Mặt khác, khách hàng có thể truy cập hệ thống NHĐT bằng nhiều thiết bị khác nhau và không cần đến ngân hàng để ký vào chứng từ giấy, không cần chờ xếp hàng, không cần phải làm việc hay giao tiếp với giao dịch viên nên có thể thực hiện giao dịch mọi lúc, mọi nơi [22]. - Dịch vụ NHĐT giúp tiết giảm đáng kể chi phí hoạt động cho ngân hàng cũng như giảm thiểu sai sót trong tác nghiệp: 11 Nhờ vào việc cung ứng dịch vụ NHĐT 24/7 đến khách hàng, các NHTM có thể tiết giảm đáng kể các chi phí hoạt động như chi phí mặt bằng cho các phòng và các điểm giao dịch, chi phí trả lương ngoài giờ cho nhân viên hoặc chi phí tuyển thêm nhân viên giao dịch, chi phí hành chính, giấy tờ hạch toán, chi phí kiểm đếm… Thông qua việc tiết giảm chi phí hoạt động, các NHTM có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng thời có khả năng miễn giảm phí giao dịch cho khách hàng để mở rộng thêm thị phần[22]. - Dịch vụ NHĐT có tính toàn cầu hóa: Nhờ vào sự hỗ trợ của mạng internet, khách hàng có thể sử dụng dịch vụ NHĐT tại bất kể không gian, thời gian.
Nhờ vào việc hoạt động 24/7 tại bất kỳ đâu, dịch vụ NHĐT giúp cho cả ngân hàng và khách hàng tham gia hoạt động kinh tế toàn cầu một cách thông suốt, giúp bắt kịp xu thế phát triển kinh tế của cả thế giới.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử - Đối với khách hàng: NHĐT tạo ra sự thuận lợi và thông suốt trong giao dịch cho khách hàng, giúp khách hàng tiết kiệm đáng kể thời gian cũng như chi phí giao dịch so với phương thức giao dịch trực tiếp tại quầy. Trên cơ sở đó, khách hàng có thể thông suốt và được đáp ứng nhanh chóng nhu cầu tiêu dùng, vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh. Đây là lợi ích mà việc giao dịch tại quầy của NHTM truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác so với dịch vụ NHĐT[16]. - Đối với các NHTM: + Nhờ vào khả năng cung ứng 24/7 và không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý nên các NHTM có thể cung ứng dịch vụ của mình đến khách hàng một cách liên tục, giúp giải quyết kịp thời và nhanh chóng nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng từ đó tạo sự gắn kết của khách hàng với ngân hàng giúp tăng thêm khối lượng và giá trị giao dịch[16].
12 + Nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng: Việc cung ứng tốt dịch vụ NHĐT sẽ giúp các ngân hàng gia tăng thị phần, giá trị giao dịch cũng như doanh số giao dịch và thu thêm phí giao dịch từ dịch vụ NHĐT. Mặt khác, do nhu cầu thanh toán thông qua dịch vụ NHĐT của khách hàng ngày càng cao nên khách hàng luôn duy trì ổn dịnh tiền gửi thanh toán của mình tại các ngân hàng giúp ngân hàng có thêm nguồn vốn không kỳ hạn có giá rẻ để làm cơ sở gia tăng hiệu quả hoạt động tín dụng[7]. + Tăng khả năng thu hút khách hàng và mở rộng thị phần và danh mục sản phẩm cung ứng: Dịch vụ NHĐT giúp khách hàng tăng cường sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Thông qua các ứng dụng giao dịch, ngân hàng có thể dễ dàng quảng cáo các sản phẩm cũng như thông tin đến khách hàng giúp tạo thêm nhiều cơ hội bán chéo, bán thêm các dịch vụ như bancasurance, tài trợ thương mại, tín dụng, ví địện tử, thẻ tín dụng[14].
+ Cung cấp dịch vụ trọn gói: Với sự phát triển của công nghệ blockchain, ngân hàng có thể sử dụng dịch vụ NHĐT để có thể cung cấp dịch vụ trọn gói liên quan tới ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán, bất động sản, tiêu dùng với một nền tảng duy nhất[2]. - Về mặt kinh tế - xã hội: Nhờ vào ưu điểm xử lý giao dịch nhanh chóng của các dịch vụ của NHĐT nên các lệnh thanh toán của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho dòng vốn của nền kinh tế chu chuyển nhanh, thông suốt giúp đẩy nhanh việc trao đổi tiền – hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đây là lợi ích mà giao dịch ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác so với NHĐT[16]. Dịch vụ NHĐT còn góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế, thương mại, dịch vụ và du lịch phát triển, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với khu vực và thế giới.
Đặc biệt là góp phần thúc đẩy các hoạt động thương mại điện tử phát triển 13 nhờ vào việc cung ứng dịch vụ thanh toán nhanh chóng và tiện lợi, nhiều ưu đãi từ các sản phẩm thẻ dành cho các cổng thương mại điện tử.4 Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử - Internet banking: Internet Banking là một loại hình dịch vụ NHĐT hiện đại giúp khách hàng có thể giao dịch ngân hàng thông qua mạng Internet vào bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ đâu mà khách hàng cho là phù hợp nhất. Do đó, khách hàng có thể thực hiện giao dịch 24/7 tại mọi nơi trên toàn thế giới[17]. Để sử dụng Internet Banking, khách hàng cần có các thiết bị điện tử được kết nối sẵn internet. Khi sử dụng dịch vụ, khách hàng không cần cài đặt thêm phần mềm nào mà chỉ cần truy cập trực tiếp vào trang web của các ngân hàng.
Với Internet Banking, khách hàng có thể truy xuất thông tin giao dịch đã thực hiện; Chuyển tiền giữa các tài khoản với nhau; tra cứu thông tin về tài khoản như số dư; tỷ giá, lãi suất, … ; tìm kiếm thông tin về các giao dịch cụ thể như số tiền, số séc, …; thực hiện các lệnh thanh toán; thanh toán tự động hoá đơn điện, nước, điện thoại và thông báo thay đổi địa chỉ đăng ký… - Mobile banking: Mobile Banking là một dịch vụ của ngân hàng giúp cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp thông qua điện thoại di động để truy vấn và sử dụng tài khoản của mình. Khách hàng sẽ nhận được thông tin về tài khoản ngay sau khi tài khoản phát sinh giao dịch. Ngày nay, internet banking và mobile banking đang có xu hướng tích hợp làm một để tạo sự thuận lợi cho khách hàng[25]. - Dịch vụ tài trợ thương mại điện tử: Hiện nay, các khách hàng chủ yếu là khách hàng doanh nghiệp muốn thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại như LC, DA, DP, chiết khấu chứng từ xuất khẩu cần phải thực hiện xuất trình bản gốc chứng từ thương mại thông qua ngân hàng và các ngân hàng phải gửi chứng từ bản gốc qua đường bưu 14 điện cũng như giao tiếp với nhau qua hệ thống SWIFT khiến các giao dịch tài trợ thương mại kéo dài từ 5-10 ngày làm việc.