Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về Ngân hàng Điện tử - Chương 2: Tình hình phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chương 3: Một số giải pháp góp phần phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Luan van 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Thương mại điện tử Thƣơng mại điện tử đã ra đời từ lâu và vẫn đang phát triển vƣợt bậc. Có rất nhiều khái niệm về TMĐT và mỗi khái niệm này đều có những giá trị nhất định. Theo tài liệu đào tạo về TMĐT của Microsoft (Fundamentals of E- business), có một vài khái niệm sau: - TMĐT là kinh doanh trên môi trƣờng điện tử nhằm kết nối ngƣời bán và người mua.
Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để tạo thuận lợi cho công việc kinh doanh. (Ecommerce is doing business electronically by bringing together buyers and sellers. It integrates data, electronic communication and security services to facilitate business application). - TMĐT là một tập hợp công nghệ, ứng dụng và quy trình kinh doanh nhằm liên kết tổ chức, khách hàng và cộng đồng thông qua những giao dịch điện tử và sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thông tin.
(Ecommerce is a dynamic set of technologies, applications and business process that link enterprises, consumers and communities through electronics transactions and the electronic exchanges of goods, services and information. - Theo công ty TNHH Đầu tƣ và phát triển phần mềm mạng Việt Nam của Sở kế hoạch và đầu tƣ Hà Nội, khái niệm: TMĐT là hình thái hoạt động thương mại bằng phương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua công nghệ điện tử nói chung. Tóm lại, TMĐT có thể đƣợc khái niệm với một khái niệm tƣơng đối toàn diện là: TMĐT bao gồm tất cả các dạng của giao dịch thƣơng mại của cả cá nhân và tổ chức dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa, bao gồm cả văn bản, âm thanh hoặc hình ảnh. Dịch vụ Ngân hàng điện tử - Với dịch vụ Ngân hàng điện tử, khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lƣu ký tại Ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới.
- Dịch vụ Ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ Ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với Ngân hàng. Các khái niệm trên đều khái niệm Ngân hàng điện tử thông qua các dịch vụ cung cấp hoặc qua kênh phân phối điện tử. Khái niệm này có thể đúng ở từng thời điểm nhƣng không thể khái quát hết đƣợc cả quá trình lịch sử phát triển cũng nhƣ tƣơng lai phát triển của Ngân hàng điện tử. Do vậy, nếu coi Ngân hàng cũng nhƣ một thành phần của nền kinh tế điện tử, một khái niệm tổng quát nhất về Ngân hàng điện tử có thể đƣợc diễn đạt nhƣ sau: “Ngân hàng điện tử là Ngân hàng mà tất cả các giao dịch giữa Ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ Ngân hàng.
Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Các giai đoạn phát triển của Ngân hàng điện tử Năm 1989, Ngân hàng tại Mỹ (WellFargo), lần đầu tiên cung cấp dịch vụ Ngân hàng qua mạng, đến nay, có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm, thành công cũng nhƣ thất bại trên con đƣờng xây dựng hệ thống Ngân hàng điện tử hoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho khách hàng. Tổng kết những mô hình đó, nhìn chung, hệ thống Ngân hàng điện tử đƣợc phát triển qua những giai đoạn sau: - Website quảng cáo (Brochure-Ware): Là hình thái đơn giản nhất của Ngân hàng điện tử. Hầu hết các NH khi mới bắt đầu xây dựng Ngân hàng điện tử là thực hiện theo mô hình này.
Việc đầu tiên chính là xây dựng một website chứa những thông tin về NH, về sản phẩm lên trên mạng nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc,. thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài những kênh thông tin truyền Luan van 5 thống (báo chí, truyền hình, .), mọi giao dịch của NH vẫn thực hiện qua hệ thống phân phối truyền thống, đó là các chi nhánh Ngân hàng. - Thương mại điện tử (E-commerce): - Với TMĐT,Ngân hàng sử dụng Internet như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như: xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán. Internet chỉ đóng vai trò như một dịch vụ cộng thêm để tạo thuận lợi thêm cho khách hàng.
Hầu hết, các Ngân hàng vừa và nhỏ đang ở hình thái này. - Quản lý điện tử (E-business): Trong hình thái này, các xử lý cơ bản của Ngân hàng cả ở phía khách hàng (front-end) và phía ngƣời quản lý (back-end) đều đƣợc tích hợp với Internet và các kênh phân phối khác. Giai đoạn này đƣợc phân biệt bởi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của NH với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách hàng đối với NH. Hơn thế nữa, sự phối hợp, chia sẽ dữ liệu giữa hội sở NH và các kênh phân phối nhƣ chi nhánh, mạng Internet, mạng không dây.
giúp cho việc xử lý yêu cầu và phục vụ khách hàng đƣợc nhanh chóng và chính xác hơn. Internet và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẻ thông tin giữa NH, đối tác, khách hàng, cơ quan quản lý. Một vài NH tiên tiến trên thế giới đã xây dựng đƣợc mô hình này và hƣớng tới xây dựng đƣợc một Ngân hàng điện tử hoàn chỉnh. - Ngân hàng điện tử (E-bank): chính là mô hình lý tƣởng của một Ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình kinh doanh và phong cách quản lý.
Những NH này sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính cho khách hàng với chất lƣợng tốt nhất. Từ những bƣớc ban đầu là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, NH có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tƣợng khách hàng chuyên biệt. Sự phát triển của dịch vụ Ngân hàng điện tử tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam Hiện nay, Ngân hàng điện tử tồn tại dƣới hai hình thức: hình thức Ngân hàng trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trƣờng mạng Internet, cung cấp dịch vụ 100% Luan van 6 thông qua môi trƣờng mạng; và mô hình kết hợp giữa hệ thống Ngân hàng thƣơng mại truyền thống và điện tử hoá các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới. Ngân hàng điện tử tại Việt Nam chủ yếu phát triển theo mô hình này.
Từ năm 1994, NH Ngoại thƣơng Việt Nam triển khai dịch vụ Home- banking. Đến năm 1999, NH Ngoại thƣơng Việt Nam thực hiện dịch vụ Ngân hàng bán lẻ đầu tiên ở Việt Nam với hệ thống VCB Vision 2010. Đến tháng 11/2002, NH Công Thƣơng Việt Nam khai trƣơng dịch vụ này. Hiện nay, đối với dịch vụ PC-banking, trên thị trƣờng có hầu hết NHTM cung cấp dịch vụ Ngân hàng tại nhà “home-banking” (Vietcombank, Techcombank, AGRIBANK, Eximbank.
Dịch vụ Phone-banking, có các Ngân hàng cung cấp là VCB, AGRIBANK, Techcombank, HSBC, ANZ và Citibank. Dịch vụ Mobile-banking thì có Ngân hàng Đông Á, AGRIBANK và Techcombank.Hiện nay, có hầu hết Ngân hàng cung cấp dịch vụ Internet- banking. Tính tất yếu phải phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 1. Vai trò của Ngân hàng điện tử với hoạt động kinh doanh Việc phát triển các dịch vụ thanh toán điện tử tiên tiến giúp chu chuyển vốn tăng nhanh và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu thanh toán của nền kinh tế đất nƣớc đang thay đổi nhanh chóng.
Chính điều đó sẽ làm cho luồng tiền từ mọi phía chảy vào Ngân hàng sẽ rất lớn và đƣợc điều hòa với hệ số hữu ích cao, làm thay đổi cơ cấu tiền lƣu thông, chuyển từ nền kinh tế tiền mặt qua nền kinh tế chuyển khoản. Thông qua hệ thống Ngân hàng điện tử, Ngân hàng có thể kiểm soát hầu hết các chu chuyển tiền tệ, cũng từ đó có thể hạn chế đƣợc các vụ rửa tiền, chuyển tiền bất hợp pháp, tham nhũng. Với các nguồn dữ liệu đƣợc truy cập kịp thời, chính xác qua hệ thống mạng thông tin, Ngân hàng Trung Ƣơng có thể phân tích, lựa chọn các giải pháp, sử dụng các công cụ điều tiết, kiểm soát cung ứng tiền tệ tối ƣu nhằm điều hòa, ổn định tiền tệ đối nội và đối ngoại chủ động, có đủ điều kiện để đánh giá tình hình cán cân thƣơng Luan van 7 mại, cán cân thanh toán, và diễn biến tốc độ phát triển kinh tế. Ngân hàng Trung Ƣơng sẽ nâng cao hơn vai trò của mình, phát huy hết chức năng của mình nếu nhƣ việc ứng dụng Ngân hàng điện tử ngày càng đƣợc đẩy mạnh trong hệ thống Ngân hàng.
Mạng thông tin giúp cho hoạt động thanh tra, giám sát Ngân hàng chặt chẽ, kịp thời chấn chỉnh những vi phạm, giữ vững an toàn hệ thống. Việc quản lý hệ thống kho quỹ, in ấn tiền, tổ chức điều hành văn phòng, quản lý hồ sơ cán bộ, đào tạo huấn luyện nghiệp vụ, hội họp từ xa trong nƣớc và quốc tế. đều có thể ứng dụng qua mạng thông tin sẽ rất thuận tiện, giảm đƣợc đáng kể chi phí đi lại, chi phí tổ chức, tiết kiệm thời gian. Đầu tƣ tín dụng cũng sẽ thay đổi lớn.
Các dự án đầu tƣ cũng có thể đƣợc đƣa lên mạng để chào mời các Ngân hàng thƣơng mại. Máy tính điện tử phân tích các dữ liệu truy cập, đƣa ra các phƣơng án để lựa chọn tối ƣu. Ngân hàng thƣơng mại thấy rõ những điều cần tƣ vấn để bổ khuyết vào dự án đảm bảo khả năng thực thi. Ngoài ra, mạng thông tin cung cấp cho các tổ chức tín dụng nắm đƣợc diễn biến của các thị trƣờng: tiền tệ, chứng khoán, hối đoái.
Những diễn biến về lãi suất, giá cổ phiếu, tỷ giá hối đoái. Các luồng vốn khả dụng đƣợc chào mời trên thị trƣờng liên Ngân hàng phản ánh qua mạng sẽ giúp cho Ngân hàng có các chính sách đúng đắn và hoạch định các phƣơng án hoạt động phù hợp.