Chương 1: Tổng quan về chấp nhận chuyển đổi số của nhân viên tại các Ngân hàng Thương mại Chương 2: Lý thuyết nền tảng và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Các giải pháp nhằm nâng cao sự chấp nhận chuyển đổi số của nhân viên tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤP NHẬN CHUYỂN ĐỔI SỐ CỦA NHÂN VIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm chấp nhận chuyển đổi số 1.Chuyển đổi số Chuyển đổi số (digital transformation – CĐS) có nhiều định nghĩa khác nhau. CĐS thường được sử dụng sai cách thay thế cho thuật ngữ số hóa thông tin (digitization) và số hóa (digitalization) (Gong and Ribiere, 2021). Số hóa thông tin được định nghĩa là lấy thông tin tương tự và mã hóa nó thành số 0 và 1 để máy tính có thể lưu trữ, xử lý và truyền thông tin đó (Bloomberg, 2018) hoặc quy trình kỹ thuật chuyển đổi tín hiệu tương tự thành dạng kỹ thuật số (Legner et al.
Số hóa đề cập đến tốc độ thay đổi trong một xã hội được thúc đ y bởi sự phát triển công nghệ kỹ thuật số, liên quan đến nhiều công nghệ ở các giai đoạn trưởng thành khác nhau sẽ hội tụ và tạo ra các công nghệ mới (McAfee, 2009) và một quy trình kỹ thuật xã hội của việc áp dụng số hóa các kỹ thuật cho bối cảnh xã hội và thể chế rộng lớn hơn để tạo ra cơ sở hạ tầng cho công nghệ kỹ thuật số (Tilson et al. Chuyển đổi số được định nghĩa là sự chuyển đổi trong các tổ chức được thúc đ y bởi áp dụng giải pháp và xu hướng công nghệ thông tin / hệ thống thông tin mới (Heilig et al. Trong thực tế, 3 thuật ngữ này liên quan đến nhau, tuy nhiên cần phân biệt rõ 3 thuật ngữ này (Gong and Ribiere, 2021). Ban đầu, các học giả và những người thực hành nhấn mạnh vào việc sử dụng công nghệ số, sau đó họ nhận ra rằng CĐS không chỉ đơn thuần là sự chuyển đổi công nghệ (Henriette et al., 2015) mà còn cần sự liên kết và chiến lược và các yếu tố khác như con người, văn hóa, tư duy, phát triển tài lăng và lãnh đạo (Goran et al.
Cùng với sự phát triển nghiên cứu về chuyển đổi số, cần có một định nghĩa thống nhất. Vì vậy, Gong and Ribiere (2021, p 12) thông qua tổng quan 134 nghiên cứu đã tổng hợp một định nghĩa thống nhất về chuyển đổi số là ―Một quy trình thay đổi cơ bản, được kích hoạt bằng cách sử dụng sáng tạo các công nghệ kỹ thuật số đi kèm với đòn b y chiến lược của các nguồn lực và khả năng chính, nhằm cải thiện triệt để một thực thể và xác định lại đề xuất giá trị của nó cho các bên liên quan.‖ Trong đó thực thể có thể là tổ chức, mạng lưới kinh doanh, ngành, hoặc toàn xã hội (Gong and Ribiere, 2021). 7 Bảng 1 sau đây thể hiện những định nghĩa khác nhau về chuyển đổi số ảng 1: Các định nghĩa về chuyển đổi số Trích dẫn Nội dung định nghĩa Nhận xét của nhóm nghiên cứu Fitzgerald et al. Sử dụng các công nghệ kỹ thuật số mới, Định nghĩa này tập (2014) và McDonald chẳng hạn như phương tiện truyền trung vào sử dụng and Rowsell-Jones thông xã hội, thiết bị di động, thiết bị công nghệ kỹ thuật (2012) phân tích hoặc thiết bị nhúng, để cho số để tạo ra giá trị phép các cải tiến kinh doanh lớn như kinh doanh nâng cao trải nghiệm của khách hàng, hợp lý hóa hoạt động hoặc tạo mô hình kinh doanh mới.
Do đó, chuyển đổi số không chỉ đơn thuần là số hóa tài nguyên và dẫn đến giá trị và doanh thu được tạo ra t tài sản kỹ thuật số Solis et al. (2014) Việc đầu tư lại hoặc đầu tư mới vào Khái niệm này tập công nghệ và mô hình kinh doanh để trung vào tạo ra thu hút khách hàng kỹ thuật số hiệu quả dịch vụ, sản ph m hơn ở mọi điểm tiếp xúc trong vòng đời kỹ thuật số trải nghiệm của khách hàng Collin et al. (2015), Mặc dù chuyển đổi số thường được mô Khái niệm này Gimpel and tả việc chuyển đổi thông tin tương tự đồng nhất chuyển Röglinger (2015), và đơn thuần thành thông tin kỹ thuật số, đổi số là số hoá và Kane et al. (2015) các thuật ngữ chuyển đổi số và số hóa cho rằng ảnh được sử dụng thay thế cho nhau và đề hưởng của CĐR cập đến một khái niệm rộng ảnh hưởng đến các vấn đề vĩ đến các vấn đề chính trị, kinh doanh và mô xã hội.
Martin (2008) Chuyển đổi kỹ thuật số hiện nay thường Chuyển đổi số là được hiểu là việc sử dụng Công nghệ sử dụng công nghệ 8 thông tin và truyền thông như vậy, khi số ảnh hưởng đến tự động hóa không tầm thường được đời sống kinh thực hiện, mà về cơ bản các khả năng doanh, chính phủ, mới được tạo ra trong kinh doanh, con người chính phủ công và trong đời sống của con người và xã hội Westerman et al. Chuyển đổi số được định nghĩa là việc Khái niệm chuyển (2011) sử dụng công nghệ để cải thiện triệt để đổi số được định hiệu suất hoặc phạm vi tiếp cận của nghĩa trong phạm doanh nghiệp vi doanh nghiệp Stolterman and Fors Chuyển đổi số là những thay đổi mà Chuyển đổi số là (2004) công nghệ số gây ra hoặc ảnh hưởng thay đổi công nghệ đến mọi mặt của đời sống con người số gây ra ảnh hưởng đến đời sống của con người Gong and Ribiere Một quy trình thay đổi cơ bản, được Đây là định nghĩa (2021) kích hoạt bằng cách sử dụng sáng tạo trong phạm vi các công nghệ kỹ thuật số đi kèm với doanh nghiệp, bao đòn b y chiến lược của các nguồn lực quát toàn diện các và khả năng chính, nhằm cải thiện triệt khía cạnh của để một thực thể và xác định lại đề xuất chuyển đổi số giá trị của nó cho các bên liên quan ( Nguồn: Áp dụng từ nhiên cứu (Reis et al., 2018)) Những khái niệm trên phần lớn đồng nghĩa chuyển đổi số là sử dụng công nghệ số và có phạm vi ảnh hưởng đến doanh nghiệp, khách hàng, toàn xã hội. Tuy nhiên, với mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, nhóm tác giả xem xét CĐS dưới phạm vi của một tổ chức và định nghĩa chuyển đổi số là một quy trình thay đổi cơ bản, được kích hoạt bằng cách sử dụng sáng tạo các công nghệ kỹ thuật số cùng với đòn bẩy chiến lược gồm các nguồn lực và khả năng chính, nhằm cải thiện triệt để một tổ chức và đề xuất giá trị cho các bên liên quan. Chấp nhận chuyển đổi số Chấp nhận công nghệ được đề xuất bởi Davis (1989); (Davis, 1985) với việc ra đời mô hình chấp nhận công nghệ (TAM - Technology Acceptance Model) dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch.
Dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch, chấp nhận công nghệ được coi là ý định sử dụng - là mức độ trạng thái tâm lý của tư duy của con người đối với việc sử dụng các dịch vụ và hệ thống cụ thể (Davis, 1989). Ý định được cho là phản ánh các yếu tố thúc đ y làm cơ sở cho hành động (Ajzen, 1991). Để dự đoán hành vi, có 3 thuật ngữ thường được sử dụng thay thế cho nhau bao gồm kỳ vọng về hành vi ( behavioral expectation), ý định hành vi ( behavioral intention), và sự sẵn sàng cho hành vi ( behavioral willingness). Trong nghiên cứu về dự định hành vi, các học giả cũng hay sử dụng các thuật ngữ này thay thế cho nhau (Vitezić and Perić, 2021).
Tuy nhiên cần phân biệt rõ 3 thuật ngữ này. Bảng 2 sau đây thể hiện phân biệt 3 thuật ngữ ảng 2: Phân biệt 3 thuật ngữ Thuật ngữ Định nghĩa Đo lƣờng Ý định hành Kế hoạch hoặc ý định Trong (khung thời gian), bạn có định làm vi tham gia vào một hành (hành vi) không? vi; được coi là một trạng Bạn có định tham gia (hành vi) trong thái mục tiêu (khung thời gian) tiếp theo không? Kỳ vọng về Dự đoán hành vi trong Bạn có mong muốn tham gia vào (hành hành vi tương lai của một người vi) trong lần tiếp theo không ( khung thời gian)? Trong (khung thời gian) tiếp theo, khả năng bạn sẽ tham gia vào (hành vi)? Sự sẵn sàng Sẵn sàng tham gia vào Giả sử (tình huống có lợi cho rủi ro) Mức cho hành vi một hành vi rủi ro trong độ sẵn sàng bạn sẽ điều sau đây? (Trình một môi trường mà rủi bày với các tùy chọn khác nhau về mức độ ro dễ diễn ra rủi ro) (Nguồn: Lấy từ nghiên cứu của Pomery et al. (2009)) 10 Những khía cạnh về chấp nhận chuyển đổi số được thể hiện dưới ý định hành vi, kỳ vọng về hành vi, và sự sẵn sàng cho hành vi. Cả 3 khía cạnh này đều đánh giá một phần sự chấp nhận công nghệ.
Khi xem xét bối cảnh chuyển dổi số ở Việt Nam và xu hướng tất yếu thì kỳ vọng về hành vi và sự sẵn sàng cho hành vi chưa phù họp cho nghiên cứu này. Trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt nam và trong các nghiên cứu về ý định hành vi sử dụng công nghệ nói chung và chấp nhận chuyển đổi số, các học giả hay sử dụng thuật ngữ ý định hành vi theo nghiên cứu của Davis (1989). Đối với chuyển đổi số là xu hướng tất yếu và sự rủi ro trong tham gia hành vi chuyển đổi số chưa rõ ràng, vì vậy thuật ngữ ý định hành vi là phù hợp trong nghiên cứu này. Vì vậy, nhóm nghiên cứu sử dụng khía cạnh ý định hành vi trong các phần tiếp theo để đại diện cho chấp nhận chuyển đổi số.
Kết hợp với khái niệm về chuyển đổi số ở phần trên, tác giả nhận thấy chấp nhận chuyển đổi số là được thể hiện là sự chấp nhận sử dụng công nghệ số, đồng thời chấp nhận quy trình chuyển đổi công nghệ của doanh nghiệp/ ngân hàng, chấp nhận chiến lược thay đổi để đáp ứng công nghệ số. Chấp nhận công nghệ số của nhân viên là một trường hợp riêng của chấp nhận công nghệ, trong đó công nghệ ở đây là công nghệ số. Vai trò của chấp nhận chuyển đổi số của nhân viên trong tổ chức 1. Chấp nhận chuyển đổi số với nhân viên Ý định sử dụng công nghệ số tác động tích cực đến các đầu ra của cá nhân.
Ý định sử dụng công nghệ số là nhấn tố quyết định đến hành vi sử dụng (Williams et al. Bên cạnh đó, Kitsios et al.