Mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi đề tài. Những cơ sở lý thuyết về chuyển đổi số tại ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng về hoạt động chuyển đổi số tại SHB chi nhánh Đà nẵng Chương 3. Đề xuất các giải pháp cải thiện hoạt động chuyển đổi số tại SHB chi nhánh Đà Nẵng 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Cở sở lý thuyết chung về chuyển đổi số 1. Khái niệm về chuyển đổi số Thuật ngữ “Chuyển đổi số” (Digital transformation) lần đầu tiên được giới thiệu rộng rãi tại diễn đàn kinh tế thế giới (world economic forum - WEF) vào năm 2015 như là một phần của hệ thống định hình tương lai của xã hội và kinh tế số. Tại diễn đàn, các báo cáo đã chỉ ra rằng, các công nghệ như điện toán đám mây (cloud computing), thiết bị di động thông minh và Internet vạn vật (IoT) đã dệt nên cuộc sống hàng ngày. Vậy bản chất của chuyển đổi số là gì? Những vấn đề liên quan đến chuyển đổi số mà doanh nghiệp cần quan tâm là gì? Chuyển đổi số trong doanh nghiệp có thể được hiểu là việc sử dụng các công nghệ số để số hóa dữ liệu quản lý, kinh doanh của doanh nghiệp; Áp dụng công nghệ số để tự động hóa, tối ưu hóa các quy trình nghiệp vụ, quy trình quản lý, sản xuất kinh doanh, quy trình báo cáo, phối hợp các công việc trong doanh nghiệp; và mức độ cao nhất là việc chuyển đổi số toàn bộ mô hình kinh doanh, tạo thêm giá trị mới cho doanh nghiệp (Frank và cộng sự, 2019; Plekhanov và cộng sự, 2022; Vial, 2021).
Theo Microsoft (2019), chuyển đổi số (Digital transformation) là một sự đổi mới kinh doanh được thúc đẩy bởi sự bùng nổ của đám mây (cloud), trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT), cung cấp những cách mới để hiểu, quản lý và chuyển đổi cho các hoạt động kinh doanh của họ. Theo Cẩm nang chuyển đổi số (Bộ thông tin và truyền thông 2021) một số công nghệ cốt lõi đã tạo ra sự sáng tạo đột phá trong cách thức kinh doanh của các doanh nghiệp là điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật và công nghệ chuỗi khối. Điện toán đám mây (cloud): là công nghệ cho phép năng lực tính toán nằm ở các máy chủ ảo, gọi là đám mây trên Internet của các nhà cung cấp thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng trên mặt đất, để mọi người kết nối, sử dụng như là 6 dịch vụ khi họ cần. Một cách nôm na, điện toán đám mây cũng giống như điện lưới.
Cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp thay vì đầu tư máy chủ tính toán của riêng mình, giống như máy phát điện, thì sử dụng dịch vụ điện toán đám mây giống như điện lưới, sử dụng đến đâu trả chi phí đến đó mà không phải bận tâm tới việc vận hành, quản lý. Có thể ví điện toán đám mây như là cơ bắp của con người. Dữ liệu lớn (Big data): Dữ liệu được sinh ra từ hàng tỷ điện thoại thông minh, thiết bị cảm biến kết nối vạn vật và hoạt động của con người trên môi trường mạng. Mỗi một ngày dữ liệu sinh ra có thể lên đến tương đương dữ liệu lưu trữ trong một tỷ đĩa DVD trước đây.
Nếu công nghệ trước kia cần một thời gian rất dài để xử lý dữ liệu như vậy thì công nghệ số hiện nay cho phép xử lý, phân tích trong khoảng thời gian ngắn hơn rất nhiều để trích rút ra thông tin, tri thức hoặc đưa ra quyết định một cách phù hợp. Nếu công nghệ trước kia xử lý dữ liệu có cấu trúc thì công nghệ số hiện nay chủ yếu xử lý và phân tích dữ liệu phi cấu trúc. Dữ liệu phi cấu trúc chiếm tới 70-80%, do vậy chứa nhiều thông tin hơn dữ liệu có cấu trúc. Có thể ví dữ liệu lớn như bộ não của con người.
Trí tuệ nhân tạo (AI): Con người nỗ lực làm cho máy móc có những năng lực trí tuệ của con người và gọi đó là trí tuệ nhân tạo. Xét theo nghĩa này, thì trí tuệ nhân tạo còn phải tiếp tục phát triển lâu dài nữa để tới gần hơn điều đó. Nhưng xét theo nghĩa hẹp hơn, là trí tuệ nhân tạo nhằm “tăng cường năng lực trí tuệ của con người”, thì đã có những bước tiến lớn trong vòng 2 thập kỷ vừa qua. Máy học là một nhánh của trí tuệ nhân tạo, có mục tiêu làm cho máy móc có khả năng học tập như con người.
Biết học là sẽ tự có được kiến thức mới, máy học dựa trên dữ liệu. Do dữ liệu ngày càng nhiều, năng lực tính toán ngày càng mạnh, nên đã tạo ra những phát triển đột phá trong máy học. Có thể ví trí tuệ nhân tạo như là hệ thần kinh của con người Học sâu là một hướng phát triển lớn, đột phá và quan trọng của máy học. Học sâu dựa trên mô phỏng cấu trúc mạng nơ-ron và hoạt động của bộ não con người để xử lý, phân tích dữ liệu lớn, bao gồm cả dữ liệu cấu trúc và phi cấu trúc.
7 Internet cho vạn vật (IoT): Internet vạn vật (IoT) là một công nghệ nền tảng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Nếu như Internet là mạng lưới kết nối các thiết bị như máy tính, điện thoại thông minh… với nhau để trao đổi, chia sẻ dữ liệu thì Internet vạn vật là mạng lưới kết nối vạn vật với nhau để làm việc tương tự. Nhờ có các cảm biến thông minh và kết nối mạng, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, những vật vô tri vô giác, vật dụng gia đình như chiếc quạt điện, lò vi sóng, hay cành cây, ngọn cỏ “cất tiếng nói” và giao tiếp với nhau và với con người. Internet vạn vật đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa môi trường thực và môi trường số.
Có thể ví Internet vạn vật như là các giác quan của con người. Chuỗi khối (blockchain): như tên gọi là một chuỗi dữ liệu phân tán trên mạng, gồm các khối thông tin được liên kết với nhau bằng mã hóa và mở rộng theo thời gian. Vì mã hóa nên bảo mật. Vì phân tán nên không ai có thể kiểm soát toàn bộ.
Vì liên kết nên bất cứ sự sửa đổi nào đều để lại dấu vết, chống chối bỏ. Vì tất cả yếu tố như vậy nên bảo đảm sự an toàn, tin cậy và minh bạch. Với các đặc điểm như vậy, các giao dịch trong mạng chuỗi khối diễn ra tự động mà không cần bên thứ ba chứng nhận. Công nghệ chuỗi khối sẽ giảm dần và xóa bỏ vai trò của trung gian trong các giao dịch.
Các nghiên cứu khác cũng đưa ra một số định nghĩa khác nhau về chuyển đổi số doanh nghiệp. Chẳng hạn, Theo Vial, Gregory (2019) Chuyển đổi số được định nghĩa là “một quá trình nhằm mục đích cải thiện một thực thể bằng cách tạo ra những thay đổi đáng kể đối với các thuộc tính của nó thông qua sự kết hợp của công nghệ thông tin, máy tính, truyền thông và kết nối” Trong khi đó, Schwertner (2017) lại cho rằng chuyển đổi số là việc tích hợp các công nghệ số với khả năng chuyển đổi quy trình, thu hút nhân tài và thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới để cạnh tranh và phát triển trong thế giới số. Chuyển đổi số cũng có thể được định nghĩa là “các chuyển đổi chiến lược nhắm đến những thay đổi trong tổ chức được thực hiện thông qua các dự án số hóa, với mục tiêu tạo điều kiện cho những cải tiến lớn về kinh doanh” (Caputo và cộng sự năm 2021; Plekhanov và cộng sự năm 2022) 8 Nhìn chung, có nhiều quan điểm khác nhau về chuyển đổi số, từ các quan điểm trên, nghiên cứu cho rằng, chuyển đổi số trong doanh nghiệp có thể được hiểu là “sự tích hợp công nghệ số mới vào tất cả các hoạt động kinh doanh dẫn đến một sự thay đổi cơ bản trong mô hình kinh doanh và cách thức hoạt động của tổ chức”. Chuyển đổi số có thể coi là một phong cách lãnh đạo hoặc là việc ứng dụng công nghệ số để sáng tạo ra những ý tưởng mới, bao gồm sản phẩm/dịch vụ mới, mô hình kinh doanh mới.
Các giai đoạn của chuyển đổi số Theo các nghiên cứu đi trước, chuyển đổi số nhìn chung được xem xét gồm có 3 giai đoạn cơ bản là số hóa, áp dụng công nghệ số, và chuyển đổi số hoàn toàn mô hình kinh doanh (Plekhanov và cộng sự, 2022; Schallmo & Williams, 2018). Các giai đoạn chuyển đổi số a. Giai đoạn 1: Số Hoá – Digitization Có một số định nghĩa khác nhau về số hóa, cách hiểu phổ biến nhất số hóa là việc chuyển đổi từ vật lý sang số (Plekhanov và cộng sự, 2022; Schallmo & Williams, 2018). Một số các chuyên gia từ các ngành công nghiệp đã đưa ra một số định nghĩa về số hóa, chẳng hạn, Surber (2016) định nghĩa số hóa là “mục tiêu là tạo ra và chuyển giao các giá trị mới đến khách hàng, không chỉ là gia tăng những gì đã được thực hiện hay đã cung cấp” Moore (2015).
Như vậy, số hóa trong doanh nghiệp có thể được hiểu là kỹ thuật số các dạng vật lý thành các dạng số và triển khai các “dạng” đó vào quy trình kinh doanh với mục đích tạo ra các giá trị mới 9 cho các bên liên quan. Việc chuyển đổi có thể thực hiện trên một số các “dạng” vật lý như chứng từ giấy sang chứng từ điện tử như hợp đồng, hóa đơn…Trong giai đoạn này, doanh nghiệp sẽ thực hiện các bước tập hợp và lưu trữ số để dễ dàng cho việc quản lý, tiết kiệm, cũng như tránh được các mất mát vật lý. Giai đoạn 2: Số Hoá Quy Trình – Digitalization Thuật ngữ Digitalization (số hóa quy trình) có sự khác biệt với Digitization (số hóa) (Brennan and Kreiss 2014). Số hóa quy trình được I-SCOOP (2016) định nghĩa “là việc sử dụng các công nghệ số và các dữ liệu (đã được số hóa hoặc bản chất là số) để tạo ra doanh thu, thay thế/chuyển đổi quy trình kinh doanh (nghĩa là không chỉ số hóa chúng) và tạo ra môi trường cho kinh doanh số, bằng cách đó, thông tin số sẽ là cốt lõi”.
Schallmo & Williams (2018) cho rằng số hóa quy trình là “sự thay đổi về cơ bản trong các hoạt động kinh doanh và mô hình kinh doanh dựa trên các kiến thức có được từ các giá trị tăng thêm của việc số hóa ban đầu”. Như vậy trong giai đoạn này, doanh nghiệp sẽ sử dụng các “dạng” đã được số hóa để cải tiến hoặc thay đổi quy trình vận hành kinh doanh hiện tại.