Đặt vấn đề và Kết luận, Kiến nghị nội dung nghiên cứu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 3: Các giải pháp thúc đẩy quyết định sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại các CHXD Petrolimex – Đăk Nông 6 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Linh Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Đạt PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về dịch vụ thanh toán và thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Khái niệm về dịch vụ thanh toán “Dịch vụ thanh toán là việc cung ứng phƣơng tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nƣớc và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của ngƣời sử dụng dịch vụ thanh toán. Phƣơng tiện thanh toán tiền mặt và các phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt đƣợc sử dụng dụng nhằm thực hiện giao dịch thanh toán (64/2001/NĐ-CP).2 Thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Khái niệm Theo quan điểm của các cơ quan quản lý nhà nƣớc, theo khoản 1, Điều 4 của nghị định số 10/VBHN – NHNN ngày 22 tháng 02 năm 2019 quy định về thanh toán không dùng tiền mặt thì “Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm thanh toán qua tài khoản và một số dịch vụ thanh toán không qua tài khoản”. Theo một số quan điểm khác, tác giả Đặng Công Hoàn (2015): “TTKDTM là một hoạt động dịch vụ Thanh toán được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ/phương tiện thanh toán để bù trừ tiền từ tài khoản/hạn mức tiền của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc được bù trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán”. Theo tác giả Đỗ Thị Khánh Ngọc (2014): “Thanh toán không sử dụng tiền mặt là những khoản thanh toán thực hiện bằng cách trích tiền từ tài khoản của ngƣời phải trả sang tài khoản của những ngƣời thụ hƣởng hoặc bù trừ lẫn nhau thông qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán”; theo các quan điểm này thì TTKDTM là một hình thức vận động của tiền tệ.
Trong TTKDTM, các ngân hàng thƣơng mại, tổ chức tín dụng, tổ chức hành chính vi mô đóng vai trò trung gian thực hiện yêu cầu của khách hàng để thực hiện quyền nhận chi trả hoặc/và nghĩa vụ phải chi trả trong các giao dịch có liên quan đến tiền tệ, theo đó ngân hàng sẽ đại diện cho khách hàng sẽ đại diện cho khách 7 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Linh Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Đạt àng thực hiện nghĩa vụ chi trả thay; thực hiện quyền đƣợc chi trả; hoặc là trung gian (tổ chức cũng ứng dịch vụ đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc cấp phép) chi trả cho các chủ thể trong quan hệ kinh tế. Từ những phân tích trên thì dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt là một hình thức thanh toán tiền, hàng hóa dịch vụ của khách hàng thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng bằng cách trích từ tài khoản này chuyển trả vào tài khoản khác theo lệnh của chủ tài khoản thông qua hình thức thanh toán do Pháp luật quy định.2 Lợi ích của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò to lớn trong nền kinh tê quốc dân, đặc biệt là trong cơ chế thị trƣờng, hội nhập kinh tế quốc tế. Thanh toán không dùng tiền mặt thúc đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, rút ngắn chu kỳ sản xuất, đẩy nhan quá trình sản xuất và tác động trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội, bởi tiền tệ vừa là khởi đầu vừa là kết thúc của một chi kỳ sản xuất. Thanh toán không dùng tiền mặt giúp tiết kiệm đƣợc chi phí lƣu thông nhờ làm giảm chi phi in ấn, bảo quản và vận chuyện tiền mặt.
Tạo điều kiện cho ngân hàng quản lý và kiểm tra đƣợc quá trình sản xuất và lƣu thông của nền kinh tế. Đối với khách hàng Nhờ việc thanh toán không dùng tiền mặt mà khách hàng tiết kiệm đƣợc các chi phí phát sinh (chi phí vận chuyển, chi phí đềm tiền,.), giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đảm bảo tiện lợi, nhanh chóng, chính xác nhanh chóng, chính xác, an toàn và bảo mật cho khách hàng, đặc biệt khi ứng dụng công nghệ thông tin của các ngân hàng thƣơng mai và các doanh nghiệp ngày càng cao. Sự đa dạng hóa các phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt, tạo điều kiện cho khách hàng có nhiều sự lựa chọn sao cho phù hợp sao cho phù hợp và tiết kiệm chi phí nhấy với mỗi công việc trong đời sống của mỗi khách hàng.
Đối với doanh nghiệp, thanh toán không dùng tiền mặt sẽ đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn và quá trình tái sản xuất trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo an toàn về vốn, tài sản đồng thởi giảm đƣợc rủi ro. 8 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Linh Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Đạt Đối với nền kinh tế Hiệu quả dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt mang tính vĩ mô, có ý nghĩa Kinh tế - Xã hội cao: Tạo điều kện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng khai thác tốt nhất chƣc năng trung gian thanh toán của nền kinh tế, thực hiện quá trình chu chuyển tiền tệ kinh tế, khai thác và sử dụng nguồn vốn trong nền kinh tế. Tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, thúc đấy nguồn vốn luân chuyển nhanh chóng, góp phần đẩy nhanh tăng tốc độ sản xuất, luân chuyển hàng hóa. Góp phần giảm lƣợng tiền mặt trong lƣu thông trên thị trƣơng, hạn chế lạm phát, lƣu thông tiền tệ, ổn định gia trị đồng tiền, tạo điều kiện cho ngân hàng nhà nƣớc thực hiên tốt nhiệm vụ điều hòa tiền tệ, kiểm soát các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao hiệu lực thi hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Những khó khăn khi áp dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt Thứ nhất, hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán điện tử vẫn chƣa hoàn thiện, mặc dù thời gian vừa qua đã đƣợc cải thiện nhiều, song chƣa đƣợc đánh giá đầy đủ và đồng bộ. Thứ hai, hạ tầng cơ sở và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động thanh toán chƣa hiệu quả. Hiện có khoảng trên 2.200 máy ATM, phân bổ chủ yếu ở thành phố lớn, khu công nghiệp, bình quân 45.000 dân/1 ATM, đây là tỷ lệ quá thấp so với con số trên 92 triệu dân. Mạng lƣới máy rút tiền tự động hay máy POS cũng rất hạn chế đƣợc lắp đặt chủ yếu ở khu vực thành phố và tập trung ở các siêu thị, trung tâm thƣơng mại, nhà hàng, khách sạn… Ở các khu vực nông thôn, miền núi còn hạn chế gây khó khăn cho chủ thẻ khi sử dụng hàng ngày, đặc biệt là khu vực nông thôn và khu vực dân cƣ.
Thứ ba, thói quen thanh toán bằng tiền mặt đã ăn sâu trong tâm trí khách hàng không chỉ ở khách hàng có mức thu nhập thấp mà còn ở cả khách hàng có thu nhập cao. Điều này một phần xuất phát từ trình độ dân trí còn hạn chế, nên việc biết đến và hiểu đƣợc lợi ích của TTKDTM còn thấp. Thứ tƣ, truyền thông về các hình thức TTKDTM chƣa đƣợc quan tâm, chú trọng. Những mục tiêu chiến lƣợc, định hƣớng và các chính sách lớn để phát triển hoạt 9 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Linh Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Đạt động thanh toán chƣa đƣợc công chúng nhận thức đầy đủ và đúng đắn.
Vì vậy, không chỉ ngƣời dân mà cả các DN hiểu biết còn ít hoặc hiểu biết mơ hồ về các dịch vụ thanh toán và phƣơng tiện TTKDTM. Thứ năm, chi phí phát sinh cao nhƣ: Chi phí phát hành thẻ cao,.Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nƣớc thì chi phí bình quân phát hành 1 thẻ vào khoảng 5USD/thẻ, trong khi chi phí phát hành thẻ trên thế giới khoảng 1 USD/Thẻ. Lãi suất cho vay qua thẻ cao cộng thêm các khoản phí dịch vụ theo thẻ nhƣ: Phí thƣờng niên, phí in sao kê, phí chậm thanh toán, phí rút tiền mặt tại ATM, phí chuyển đổi ngoại tệ, phí giao dịch… Thứ sáu, giao dịch thanh toán thẻ qua POS chƣa nhiều, nhất là thanh toán thẻ nội địa qua POS, việc triển khai POS vẫn còn những bất cập, vẫn còn một số đơn vị bán hàng thu phụ phí khi khách hàng thanh toán qua thẻ, một số đơn vị bán hàng còn chƣa sử dụng việc thanh toán qua thẻ vì không muốn công khai doanh thu bán hàng.4 Những hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Theo nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ và Thông tƣ số 46/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam hƣớng dẫn về dịch vụ TTKDTM, dịch vụ TTKDTM do ngân hàng cung cấp bao gồm: thanh toán bằng séc; thanh toán bằng ủy nhiệm chi; thanh toán bằng ủy nhiệm thu; thanh toán bằng thƣ tín dụng; thanh toán bằng thẻ ngân hàng; dịch vụ thanh toán bằng thẻ ngân hàng; dịch vụ thanh toán điện tử;. Với mỗi hình thức thanh toán có nội dung kinh tế nhất định đáp ứng với điều kiện tính chất sự vận động vật tƣ hàng hóa cung ứng dịch vụ và phƣơng thức chi trả trong quan hệ giao dịch.1 Thanh toán bằng séc Séc là một mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do ngƣời kí phát lập, ra lệnh cho ngâng hàng trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình tại ngân hàng để trả cho ngƣời cầm séc đƣợc ngƣời thụ hƣởng.
Các bên tham gia: Người kí phát: là ngƣời lập và kí tên trên séc để ra lệnh cho ngƣời thực hiện thanh toán thay mặt mình trả số tiền ghi trên séc. 10 SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Linh Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thúy Đạt Người được trả tiền: là ngƣời mà ngƣời kí phát chỉ định có quyền hƣởng và chuyển nhƣợng quyền hƣởng đối với số tiền ghi trên tờ séc. Người thụ hưởng: là ngƣời cầm tờ séc đó mà ngƣời cầm tờ séc đó có ghi tên ngƣời đƣợc trả tiền hoặc ghi cụm từ “trả cho ngƣời cầm séc” hoặc đã chuyển nghƣợng bằng việc kí hậu cho mình thông qua dãy chữ kí chuyển nhƣợng liên tục. Người thực hiện: là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi ngƣời kí phát đƣợc sử dụng tài khoản thanh toán với một khoản tiền để kí phát séc theo thỏa thuận của ngƣời kí phát với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đó.