Chương 1: Giới thiệu dé tài Trình bày về bối cảnh nghiên cứu, lý do thực hiện dé tài, mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài, phạm vi và giới hạn nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tải. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày các van dé về cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước đây có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến truyền miệng trực tuyến (eWOM) của khách hàng trên mạng xã hội. Từ đó làm căn cứ để đưa ra các yếu tố phân tích và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Đưa ra phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong dé tài để điều chỉnh và đánh giá thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu và kiểm định mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết đã đặt ra.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày và phân tích kết quả thu được từ mẫu khảo sát và kiểm định các thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm tắt kết quả nghiên cứu và đưa ra những kết luận về nhận dạng và đo lường tác động của các yếu t6 ảnh hưởng đến truyền miệng trực tuyến của khách hàng sử dụng dịch vụ khách sạn thông qua kết quả phân tích. Dé xuất một số hàm ý chính sách quản trị nhằm ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong kinh doanh du lịch trực tuyến trên địa ban thành phố Đà Lat. CHUONG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ MO HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Bối cảnh nghiên cứu 2. Tổng quan thực trạng về ngành du lịch thành phố Da Lạt Năm ở độ cao 1.500 mét so với mực nước biển và được các day núi cùng quân hệ thực vật rừng bao quanh, thành phó Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng thừa hưởng khí hậu miễn núi ôn hòa va dịu mát quanh năm. Lịch sử hơn một thé ky cũng dé lại cho thành phố nét đặc trưng di sản kiến trúc giá trị, cùng với tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú giúp Đà Lat trở thành một trong những điểm du lịch nồi tiếng của Việt Nam, thu hút hàng triệu du khách tới tham quan và nghỉ dưỡng hàng năm. Theo báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2017 của Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Lạt thì hiện nay, toàn địa phương có 970 cơ sở lưu trú du lịch (trong đó có 265 khách sạn từ 1 - 5 sao, con lại là nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, nhà nghỉ du lịch, biệt thự du lịch.
); thành phó Đà Lat đã thu hút khoảng 3,5 triệu lượt khách qua lưu trú trong năm 2017, khách đến tham quan và ở tai các cơ Sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành pho Đà Lạt từ nhiều kênh như: khách đoàn thông qua các đơn vị kinh doanh lữ hành; khách đi công tác hay tham dự hội nghị; khách du lịch tự túc thông qua việc tự tìm hiểu thông tin, tư vấn từ người thân và bạn bè, hay thảo luận trên mạng xã hội, sau đó đặt phòng trên hệ thống đặt phòng trực tuyến, hoặc trực tiếp tại khách sạn. Thành phố Đà Lạt có vị trí địa lý đặc biệt, nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dang; cùng với sự hỗ trợ tốt về cơ chế, chính sách đặc thù trong việc phát triển kinh tế du lịch bền vững từ chính phủ; chính quyên địa phương xác định du lịch là ngành kinh tế động lực của tỉnh nên rất quan tâm đầu tư công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý, quảng bá xúc tiến, ứng dụng công nghệ thông tin nhăm cung cấp các tiện ích thiết thực cho du khách, qua đó định hướng để Đà Lạt trở thành thành phố du lịch thông minh và là trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao câp tâm quôc gia, khu vực và quôc tê. Thue trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh khách sạn tại thành phố Đà Lạt Công nghệ thông tin đã được triển khai áp dụng cho ngành du lịch của địa phương, tuy nhiên mới chỉ dừng lại chủ yếu ở các ứng dụng phục vụ công tác quản lý nhà nước, trong khi ứng dụng phục vụ du khách và công cụ hỗ trợ doanh nghiệp du lịch còn chưa tương xứng, vì vậy chưa đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm thông tin của du khách về du lịch Da Lạt, đặc biệt là thông tin dành cho du khách quốc tế. Trong thời gian qua chính quyên tinh Lâm Đồng liên tiếp triển khai thực hiện các chính sách nhăm phát triển ngành du lịch gắn với phát triển công nghệ thông tin trong xu thé chung của thế giới.
Việc triển khai Quy hoạch tổng thé phát triển công nghệ thông tin tinh Lâm Đông đến năm 2020 là một bước tiến quan trọng tuy nhiên van còn nhiều hạn chế, kinh phí đầu tư phát triển công nghệ thông tin con dan trải, chưa đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước và sự tham gia của các đơn vi kinh doanh du lịch. Hiện tại tinh Lâm Đồng đang duy trì hai trang mạng điện tử cho ngành du lịch, một là công thông tin của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch http://svhttdl.vn chủ yếu cung cấp các văn bản quy phạm pháp luật, hai là trang mạng du lịch http://dalat-info.vn cung cấp thông tin du lịch, tuy nhiên nội dung không thường xuyên được cập nhật, giao diện chưa bắt mắt, ân tượng. Tỉnh Lâm Đồng đã triển khai Đề án ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý lưu trú du lịch nhưng chỉ dừng ớ mức độ dành cho cơ quan quản lý nhà nước và cơ sở lưu trú du lịch khai báo về số liệu khách lưu trú tại cơ sở, chưa mở rộng và liên kết với các trang mạng xã hội để cung cấp thông tin về địa điểm lưu trú cho du khách, cũng như tạo môi trường thuận lợi cho du khách tham gia trao đồi, tìm hiểu, chia sẻ thông tin về cơ sở lưu trú du lịch. Vừa qua, tỉnh Lâm Đồng đã ký kết với Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam nhằm thỏa thuận hợp tác xây dựng Đà Lạt trở thành thành phố thông minh giai đoạn 2017 — 2020; ngoài ra lãnh dao địa phương tiếp tục liên kết với Việt Nam Airline để quảng bá du lịch, mời các đoàn chuyên gia, t6 chức nhiều hội nghị, sự kiện, để góp ý vả quảng bá cho du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng.
Có thé thấy, toàn tỉnh đã tập trung nguôn lực dé phát triển ngành kinh tế du lịch địa phương phát triển đông hành với phát triển công nghệ thông tin. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa tao ra nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm số lượng du khách quốc tế đến tham quan, nghỉ dưỡng tại Đà Lạt - Lâm Đồng còn thấp, chưa tương xứng với kỳ vọng của ngành du lịch Đà Lạt nói riêng và của tỉnh Lâm Đồng nói chung. Bên cạnh đó, công tác xúc tiến quảng bá du lịch chưa tương xứng với tiềm năng du lịch của tỉnh, chưa mở rộng quảng bá du lịch nhất là ứng dụng quảng bá qua mạng xã hội, các trang mạng du lịch; thiếu tính đa dạng về ngôn ngữ; quảng bá du lịch còn lạc hậu bằng những ấn phẩm giấy, cong kênh, khó khăn cho du khách trong việc lưu trữ, tra cứu và tìm kiếm thông tin, khó quảng bá thông tin tới nhiều người.
Qua đó du lịch Đà Lạt rất cần những kênh thông tin du lịch chính thống nhăm cung cap công cụ hỗ trợ cho du khách trong quá trình tra cứu thông tin du lịch và dịch vụ chuẩn bị cho chuyến đi, đồng thời quảng bá sản phẩm du lịch, dịch vụ đến gan hơn với du khách không chỉ trong nước ma còn cả quốc tế; ngoài ra cũng cần thu thập những phản hồi từ các trang mạng xã hội về các khách sạn nhăm phát hiện và xử lý kịp thời những thông tin tiêu cực, phản ánh chất lượng dịch vụ kém như chèo kéo khách, đầu cơ phòng. và khăc phục những khó khăn khác mà ngành du lịch Da Lat dang gặp phải. Các khái niệm chính trong nghiên cứu 2. Một số khái niệm về du lịch Luật Du lich sửa đôi được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2017 tại Kỳ hop thứ 3 - Quốc hội Khóa XIV đã đưa ra các khái niệm: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoải nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.
Khách du lịch (du khách) là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp di học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước 10 ngoài. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch.
Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Cơ sở lưu trú du lịch là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch. Cơ sở lưu trú du lịch gồm có các loại: Khách sạn, Biệt thự du lịch, Căn hộ du lịch, Tàu thủy lưu trú du lịch, Nhà nghỉ du lịch, Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, Bãi căm trại du lịch và các cơ sở lưu trú du lịch khác. Mạng xã hội (Social networking sites) Theo Boyd va Elison (2008) thi mạng xã hội (MXH) là cơ sở dé hình thành mạng lưới xã hội và các mối quan hệ xã hội giữa những người chia sẻ các sở thích, hoạt động, lý lịch hay các liên lạc ngoài đời thực.
Cac trang MXH được coi như là các dich vụ trên nền mang cho phép các cá nhân xây dựng một hô sơ công khai trong một hệ thống giới hạn, kết nối với danh sách các người dùng khác mà họ có thể có những mối quan hệ và có thể xem danh sách kết nối của họ cũng như những người khác trong hệ thống. Tính chat và tên gọi của các kết nỗi có thé khác nhau giữa các trang MXH.